Trần Hoài Thư: Đêm của thám kích

Truyện

Đêm nay, trung đội phải di chuyển sang một toạ độ khác. Địa điểm kích bị lộ khi một người đàn bà ra gò sau nhà tuột quần đi cầu. Thằng Minh cao bồi kể lại: Tao thấy con mụ ra ngoài gò như chỗ không người. Nhờ ánh trăng nếu không tao đã cho mụ một phát rồi. Tao kêu ông Lợi dậy. ổng già mà vẫn còn dê. Trời ơi hai cái mông của mụ dưới ánh trăng xem mát cả con mắt. Ông Lợi cứ chắc lưỡi hoài. Tao chửi thề. Cứt thúi thấy mẹ mà ông thèm cái nổi gì. Sau đó tao đằng hắng. Tao thấy mụ nhổm dậy nhìn quanh. Tao đằng hắng thêm một lần nữa. Mụ hét lớn: Trời ơi ma, ma, rồi bỏ chạy…

Đêm còn lại chúng tôi đã tìm một nghĩa địa làng để trú quân. Vẫn là những mả mới mả cũ. Vẫn là những bia mộ người chết bên cạnh quan tài của những con người còn thở. Người chết muốn yên, muốn an giấc ngàn thu, muốn tiêu diêu miền cực lạc, nhưng vẫn không xong, vẫn bị đám thanh niên từ đâu mò đến gài mìn, chong súng quấy rầy. Và những người con gái bên khung cửa, trong lầu hoa, mê theo Đời Phi Công của Toàn Phong nữa. Phi công của Toàn Phong lái trên trời, bay trong không gian, xa tầm đạn, xa quả đất, xa người chết, buồn lắm, cô đơn lắm. Nhìn hoài quả đất cũng nản. Còn bọn này, vui lắm. Chơi đùa với sinh tử. Bầu bạn với âm hồn. Hiểu hơn ai cái giá trị của một hơi thuốc rít sau một đêm thèm khát, hay giọt cà phê đầu ngày trong quán bên chợ hay tiếng trống trường buổi sáng thùng thình. Dù bộ quần áo be bết, giày lấm bùn non chưa khô, có thằng, quần bị rách chưa vá, nhưng mà, bọn này hiểu rõ hơn ai sức nặng của sông của núi. Núi sông đã làm rách quần rách áo, đã làm bạc trắng xác xơ màu vải trận, đã làm cổ áo đen bẩn vì mồ hôi lẫn đất bụi. Nỗi cực khổ này phải bỏ lên khay mà thờ mà lạy, mới phải.

***

Điều chờ đợi đã đến: Bây giờ tiếng loa lại bắt đầu nổi lên khi mất khi còn trong gió. Bọn ác ôn Mỹ ngụy hãy quay về với nhân dân. Tiếng loa thường thường nổi lên vào quá nửa đêm. Ban đầu, tôi lo lắm. Tôi đã nói, tôi đang học. Học cái sợ. Học cái vui. Học nỗi hiểm nguy. Học phút nghẹt thở, lạnh mình. Đừng bảo tôi là một chàng trai hào kiệt, xếp bút nghiên theo việc đao cung. Cái thời ấy đã không còn nữa. Ngựa không có để phi đường xa, thanh kiếm cũng chịu thua trước khẩu CKC tắc cù… Bây giờ thì cũng quen. Có điều, tiếng loa chó má đã không cho chúng tôi bình an. Nó cứ châm chọc, không ra mặt, mà cứ lẩn tránh đâu đó, thỉnh thoảng lại nổi lên trong đêm khuya thanh vắng. Khi thì rõ, khi thì yếu. Khi thì giọng đàn ông. Khi thì giọng đàn bà. Vẫn là một điệp khúc toàn là những chữ Mỹ ngụy, ác ôn, nhân dân, hối cải, phản động, hung thần, trời không dung đất không tha… Vẫn là những chữ nghĩa từ những tay trói gà không chặt, đêm ngày nặn óc moi tim để sáng tạo ra những bài văn, bài thơ, khẩu hiệu dính máu đỏ lòm. Nó không cho tuổi trẻ chúng tôi được yên. Nó lôi chúng tôi ra đấu tố giữa đêm hôm khuya khoắc. Hạ sĩ nhất Ký bò tới nói: “Thiếu úy để tôi dẫn toán tiền thám vào làm tịt miệng bọn chuột. Không lẽ đêm nào cũng nghe chúng chửi mình sao, ông?”. Câu nói của ông Ký như khích tôi. Tôi trả lời: “Thì đi. Tôi cùng đi với ông” . Tôi dặn ông Tướng xem trung đội dùm. Tôi cũng bảo Đông và Tròn ở lại. Ông Ký thì thào với tôi: Ông nhớ theo tôi. Xem chừng những hố bom, hay những vũng nước trâu. Bọn du kích này tinh ranh lắm. Khi nó phát loa, tức là nó đã có cảnh giới, có chốt bảo vệ nó. Ông nghe không. Nó còn dạy đời. Nó nêu đích danh thám kích nữa. Thật vậy, tiếng loa bây giờ chỉ đích danh đơn vị tôi mà kết tội. Bọn hung thần thám kích ác ôn…Thì ra, đám du kích này cũng biết sợ chúng tôi. Chúng tôi lao vào trong đêm. Đứa này theo đứa kia. Ông Ký dẫn đầu. Kế đến là tôi. Sau đó là Minh cao bồi. Và cuối cùng là Nha. Thỉnh thoảng một trái sáng từ hướng trại binh Mỹ được bắn lên, sáng lòa cả không gian, và chúng tôi cả 4 đứa đều nằm rạp xuống. Ông Ký như một con hổ rừng. Chúng tôi vừa bò, vừa ngừng lại để nghe ngóng. Có một điều là địch ít có kích như chúng tôi nên việc xâm nhập vào mật khu địch thường thường ít khi bị phát giác. Chúng tôi cố gắng không lội nước. Tiếng lội là cả một đại nạn. Những người lính kinh nghiệm là những người biết nghe ngửi nhiều hơn thấy. Nghe tiếng đạn đi, để biết nên bò, hay nên chạy. Họ là người thiểu số nên quen thuộc với tiếng chân người, chân thú di chuyển. Họ ngửi mùi phân người để biết nơi này địch mới đóng quân. Những kinh nghiệm rất thật, rất cần, hơn là những tưởng tượng viễn vông của những ngài ngồi đàng sau hay ngồi ở trên. Những kinh nghiệm giúp họ vẫn còn tồn tại qua bao nhiêu ngày tháng lửa đạn chập chùng. Càng lúc chúng tôi càng nghe tiếng nước xoáy mạnh. Thì ra một con kênh đã chặn ngang. Tiếng nước chảy trong đêm thanh vắng càng nghe dữ dội. Có lẽ là nước lũ từ núi đổ xuống. Chúng tôi nằm trên bờ kinh. Không thể nào qua bên kia được. Rồi tiếng loa lại nổi lên, nghe rõ mồn một. Lúc ấy vầng trăng đã lẫn vào mây. Chúng tôi cùng nhau nhắm vào hướng tiếng loa và nổ súng. Tôi nghe tiếng la thất thanh ở bên kia bờ: Bọn biệt kích xâm nhập!. Bọn biệt kích xâm nhập!. Họ làm sao biết ở bên này, chúng tôi đang âm thầm rút lui. Như thể một trò chơi trốn bắt thời con nít. Quả đúng như lời ông Ký nói, từ đêm ấy, tiếng loa không còn nổi lên trong đêm nữa.
(trích Đánh giặc ở Bình Định của Trần Hoài Thư, Thư Ấn Quán xuất bản 2001)