Phan Nhật Nam: Hai Người Lính… Sau Một Lần

 

Sau 30 tháng 4 năm 1975, trong các tài liệu “học tập” phổ biến khắp cùng miền Nam, người cộng sản Hà Nội thưng dùng đến những cụm từ “chế độ Mỹ-Diệm… Thiệu-Kỳ..”, khi nói đến chính phủ VNCH với những hình ảnh, tính chất như…”Lê máy chém khắp nơi…  Tàn bạo đến nỗi trời không dung đất không tha.. Dùng trúc Nam Sơn, chấm mực biển Đông cũng không thể nào viết hết tội ác…v..v..”.  Và trong màn lăng nhục “có hệ thống” đó, người lính VNCH tất nhiên được “mô tả” (bởi một hệ thống văn nô rất “chất lượng”, cho dù ngưi viết thuộc thế hệ những nhà văn “phản kháng có ý thức đổi mới”) qua hình ảnh một “thằng lính ngụy” chuyên nghề “ăn gan, uống máu..”  gọi cố vấn Mỹ bằng “ngài”…và hiếp dâm hằng chục, hằng trăm người trong một đợt hành quân.  Mười -chín năm sau, trung tâm “trưng bày tội ác Mỹ – Ngụy” ở đường Trần qúy Cáp (tức là đường Võ Văn Tần bây giờ…  Một thằng cha ở đâu nghe lạ quơ lạ hoắc, nguyên nhân gây nên chuyện lạc đưng cho chính dân Sài gòn hôm nay…) vẫn mở cửa để làm chứng tích của một thi sự ác tràn ngập miền Nam. Và những người lính VNCH vẫn bị lăng nhục, nguyền rủa bất công đáng uất hận, phẫn nộ. Một kẻ thù luôn cần phải có trong hệ thống truyền thông mạ lỵ của người cộng sản.  Cho dù  kẻ  thù ấy đã  không còn, tiêu vong, vắng mặt.  Người cộng sản cũng luôn cần thây người và mùi máu, như bài hát họ đã từng tấu tụng, hằng ngợi ca.  Và ở đây, nơi đất Mỹ hình như vẫn không có gì thay đổi. Người cộng sản Việt Nam vẫn đang là một đề tài được khai thác với nhiều ngộ nhận “ưu đãi”… cho dù đã 19 năm, đã bao lần, đã bao người…Với Polpot ở Campuchia, Céaucesscu của Roumania, Kim Nhật Thành Bắc Hàn, Stalin Liên sô…  Và người mà bác sĩ Lý mô tả “không chịu đánh răng, không bao giờ tắm, chuyên môn “đổ bệnh” cho gái quê là ai của “Đông Phương, nơi mặt tri màu Đỏ không hề lặn “…Và người ra lệnh “cho phép” trẻ con bám bè vượt bin trong bão tố vào đất Mỹ của tháng 9, 10 vừa qua và đang xẩy ra….  Là ai, là những ai?!!..  Sự kiện nầy khiến chúng ta nên đặt ra câu hỏi… Không lẽ  hôm nay trên thế giới vẫn còn rơi rớt một thứ cộng sản đẹp đẽ nào đó mà chỉ vì do “chưa tốt trong quản lý kinh tế ” nên đã có những hiện “tiêu cực”. Nói theo kiu cách của người cộng sản Việt Nam.  Cách nói đã được rất nhiều người tin, sống và chết cùng.  Sống và chết với những ngôn ngữ không sinh khí như thây ma của kẻ vô thừa nhận đã khô rã từ lâu.  Câu chuyện sau minh chứng những li trên. Sự việc nhỏ nhoi, im lặng, xẩy ra trong bóng tối, • vùng quê giữa hai người lính. Lẽ tất nhiên ở Việt Nam. Vì chỉ ở đấy mới có được những chuyện tầm thường, tội nghiệp nầy.

 

Anh luôn ý thức được điều, mình là người Khổ Đau.  Sự khổ đau có thật, từ một tình cảnh cụ th, hiễm nghèo…  Luôn chuẩn bị đ đi tù, bị nhốt vào phòng tối và tồi tệ hơn, sắp đem đi… bắn.  Tình cảnh đáng sợ hãi nầy không do anh gây nên, nó xẫy ra cùng một lần với việc sụp đỗ miền Nam, khi những người  lính được lệnh ném khẩu súng xuống đất, vất bỏ bộ máy cò, cởi.. tấm áo, chiếc quần, đôi giày…  Anh làm những động tác nầy trước mắt lính anh, ngay tầm nhìn của những ngưi dân thất thần lơ láo.  Anh tự lột truồng dưới ánh mặt tri, giữa đám đông không ngại ngùng, không bối rối, xấu hỗ.  Anh coi mình như đã chết từ lâu.  Nhưng bởi chưa chết được với thân xác cụ th nên anh phải sống với tâm thức đợi ch điều đau đớn cuối cùng kia.  Anh sống như là một Khổ Đau.  Đây là một thực tế “không th phủ nhận, đão ngược được” nói theo kiu của cán bộ chính trị, những tay văn công, kẻ “hộ lý và trợ lý” viết bài cho “các anh lớn”, đám báo chí, văn nghệ sĩ miền bắc lẫn dân miền nam nếu muốn đuọc tiếng có “Tiến bộ – Tiến bộ cách mạng.”  Hóa ra anh đã sống cùng người cộng sản đến mười tám năm nên nhiễm phải thói quen, chữ nghĩa của họ lúc nào không hay.  Mười tám năm để chỉ một điều không có gì phấn khởi bằng khoảng thi gian từ lúc sinh ra đi đến ngày đi lính, cách đây ba mươi ba năm. Mười tám năm. Kinh thật!

 

 

Anh nghĩ lang bang như trên khi đứng ở ngã tư Cách Mạng 1 tháng 11 – Trương tấn Bửu (bây giờ chính quyền cộng sản đổi tên thành Nguyễn văn Trỗi và Trần Huy Liệu).  “cách mạng” thành Nguyễn Văn Trỗi thì cũng thế  thôi, chẳng ai giành với ai.  Cái gọi là “cách mạng” từ đông sang tây, thượng cổ đến hiện đại, nhiều người đã dùng qua…  Anh chàng giác đấu Spartacus (thế kỷ thứ 8 sau công nguyên) đến ông rậm râu Ché Guévara của thi đại chúng ta.  Chỉ khác nhau chi tiết, mấy ông làm cách mạng khúc sau nầy (…thế kỷ 19, 20) hay đ râu.  Karl Marx, Lenin, Hồ Chí Minh…  để nhiều râu; Tôn Văn ít râu , Gandhi  không có  râu…Từ đó có th rút ra kết luận đầu tiên – Càng có nhiều râu càng có nhiều “tính cách mạng” và…càng lắm râu càng …ác!  Nhận định nầy có vẻ chủ quan và phù phiếm.  Vì Hitler chỉ chút ít râu mà cũng đã ra gì với sáu triệu ngưi Do Thái bị đẩy vào lò hơi ngạc và Staline với mỗi bộ râu mép cũng làm tới hai mươi triệu mạng dân Nga.  Và “bác ta” tuy có râu trên duới, mang thêm cả dép râu mà nào có giết ai đâu…  Tập trung cả ngàn người bị chôn sống ở Huế đầu xuân Mậu Thân 1968, bị pháo kích chết chỉ riêng một ngày 29 tháng 4, 1972 trên chín cây số đưng nam Hải Lăng, Quảng Trị…  Người chết nơi sông Ba, đoạn Phú Bổn-Tuy Hòa, trên bến tàu Đà Nẵng, cầu đá Nha Trang…  Và trăm ngàn, triệu ngưi vượt bin, hiện đang bị đày ải nơi dãy trại cấm Hồng Kông, Mã Lai, Phi-Luật-Tân, hoặc đã tan  thân trong sóng nước… Hỏi vì sao đã chết.  Vì đâu nên nỗi đau thương. Không một ai có th trả li.  Không tìm ra kẻ gây nên tai họa.  Những ngưi chết không được định nghĩa. Những cái chết không thủ phạm! Làm gì có kẻ giết người nào trên một đất nước có con ngưi kiệt liệt, tên gọi Hồ Chí Minh, ngưi được cơ quan UNESCO làm lễ tuyên dương một trăm năm bởi đã hoàn tất sự nghiệp “bảo vệ con ngưi”.  Ngôn ngữ đến đây mang tính cách miệt thị đến độ vô luân và tàn nhẫn nhất với những ý nghiã  lạm dụng nhơ nhuốc tận cùng.  “Cách Mạng” – Chữ đáng bị nguyền rủa nhất.

 

 

Khi đứng nhìn chú nhỏ lồng ruột vào lốp xe honda, anh có ý nghĩ…  Ngoài việc gánh chịu tai ương, chiến tranh, những hoàn cảnh khắc nghiệt một cách thản nhiên, người Việt luôn biết khai trin, biến đổi các tình huống khó khăn nhất thành hữu dụng. Riết đâm quen, họ xoay xở những điều xấu xa, độc ác nên nguồn lợi ích.  Bao ni-lông ướt nhẹp nước cống lầy nhầy chất dơ, thứ phế phẩm rác rưới  bẩn thỉu ghê tởm kia có th gây buồn nôn cho bất kỳ ngưi tây phương nào đã là một phẩm vật gây ẩu đả có th đi đến giết nhau giữa hai con người đói khổ.  Cũng như chiếc ruột xe honda bị rải đinh đâm thủng nầy đã là nguồn sinh kế cho một người, nuôi được cả gia đình.  Biết đâu (…với một tỷ lệ hiện thực rất cao), chú nhỏ vá ruột xe nầy trở thành một giáo sư có học vị tiến sĩ, phó tiến sĩ hoặc kỹ sư công nghệ…  Bởi đã có người, rất nhiều người làm một công việc đại loại như cho hạt cải giống vào bầu… (miếng lá chuối quấn tròn đựng cục đất màu) sau một “quá trình công tác” trở thành “kỹ sư nông nghiệp”.  Người hướng dẫn tiến trình huấn luyện nầy cũng được đào tạo theo phương thức quy chế tương tự.  Nói tóm lại, mấy chục triệu người Việt Nam đã đồng “thực hiện và thực hiện tốt, có hiệu quả và đạt năng suất cao khẩu hiệu… “Tranh thủ mọi điều kiện; Tận dụng mọi phương tiện; Khắc phục mọi khó khăn; Huy động mọi khả năng…”.  Tất cả cụm từ nầy phải được xử dụng đủ một lần… để được gọi là “đáp ứng được mục đích yêu cầu khi phát biu”;  Không phải do ý riêng của ngưi viết.  Khẩu hiệu có tính cách chỉ đạo chiến lược và chỉ huy chiến thuật phát xuất từ ban tuyên huấn trung ương “đảng ta”. Khẩu hiệu nầy có th áp dụng cho tất cả mọi tình huống, bao gồm nhiều lãnh vực, trong tất cả các thể loại công tác chỉ cần thêm vào đằng sau những câu, mệnh đề phụ…  Ví dụ như… “Để tiến tới thâu đoạt một vụ mùa thắng lợi” hoặc, “Để thực hiện tốt chính sách sinh đẻ có kế hoạch …v..v..”.  Cũng có th trương lên nơi một công trưng khi cần thiết…  “Để hoàn thành vượt mức chỉ tiêu tiến độ thi công tuyến đưng 304…”…  Tức là đoạn đưng xẻ qua ngọn đồi nhân kỷ niệm ngày chiến thắng 30 tháng Tư.  Hai trăm con người cuốc, đào, cào, xới một đỉnh núi với tay trần, cuốc, sẻng, xà beng liên tục từ sáu gi sáng đến chiều tối theo âm động thúc dục của hai cái trống, dảy c đỏ và tấm biu ngữ viết khẩu hiệu trên.  Con người không chỉ sống bằng bánh mì.  Người có thể sống với khẩu hiệu và tiếng trống… Và cũng có thể chết rất yên ổn với một vài từ ngữ được học thuộc lòng, nói đi nói lại.  Như con chó trong thí nghiệm Palov dễ dàng chảy nước giãi khi nghe tiếng chuông gióng dã thay thế miếng thịt tưởng tượng.  Ngưòi cộng sản Việt Nam quả thật đã thành công, rất thành công trong vận động chữ, nghĩa.  Những ngôn ngữ vô tính dưới tay họ thoắt trở nên sống động, dậy mùi máu và hơi tử thi.  Thành quả thâu đoạt tiếp liền sau “quá trình” xử dụng xác chết như vừa nói trên…

 

 

Đám thực khách đang cao độ nhậu, chú nhỏ vá lốp xe, hai ngưi đàn bà giành giựt cái bao ni-lông nơi rãnh cống trước quán ăn, kể cả thằng người cụt chân nằm trên tấm gỗ có bốn bánh xe lăn.  Thằng ngưi đưa mười ngón tay cùi lỡ bôi phẫm xanh đỏ lên tri, úp mặt xuống nhựa đường la lối, chửi rủa những lời vô nghĩa…

 

 

Đám đông qua đưng lúc nhúc xe đạp, xe ba gác, xe xích-lô, xe honda và xe hơi mang bảng số xanh của nhà nước dồn ứ lại quanh thằng người gây nên cảnh nghẹt xe huyên náo, bụi mù sùng sục.  Người cảnh sát – công an gác đưng đang nhỏ to hỉ hả với một cô gái vừa bị thổi còi, kêu vào do một lỗi vi phạm giao thông nào đó.  Lấy xe, trả tiền, đạp nỗ máy…  Anh nhập vào đám đông lúc nhúc kia.

 

 

Lòng cũng trắng nhợt một niềm bình yên.

 

 

Đi đâu đây… Thôi về vậy.

 

 

Khi anh qua cầu An Lộc, trời đã sụp tối.  Cầu An Lộc tức là chiếc cầu bê-tông thay thế cầu sắt bắt qua kinh An Phú đông, nối tiếp con đưòng từ xóm Mới lên vùng Hóc Môn, đổ ra xa lộ Đại Hàn, vòng đai Sài gòn ở mặt bắc.  Nơi đây, suốt đoạn đường, trên từng khung sắt loang lỗ của cây cầu nầy… Ngày ấy… khói bom, vết đạn xoáy sâu xuống mặt đất, miết hằn lên lớp sơn đỏ, uốn cong lan can vài thành cầu, vòm sắt phía b trái ngập nửa thân xuống nước…  Người lính bò khó khăn trì chậm dưới sức nặng của ba-lô, nón sắt, súng đạn.  Con người di chuyển như một con sâu.  Chỉ khác, con sâu bò bình yên trong đất, giữa đám lá; người lính bò nguy nan trên khối sắt còn nóng hơi.  Súng nổ từ đám ô rô, bên b rạch đối diện, đạn chạm thành cầu nghe coong coong…  Ngưi lính hơi nhỏm lên, nhô đầu… nhìn quanh quất nháo nhác, ánh mắt thoáng vui mừng khi thấy đồng đội bò theo sau.  Tia sáng vui mừng hé lên đồng thi bùng vỡ ánh sợ hãi…  Chết tui rồi!!  Anh ngã ùm xuống nước.  Chìm mất.  Máu đỏ loang rây rây màu nước xanh.  Ba-lô kẹt vào chân cầu giữ xác anh không bị cuốn đi, chỉ chiếc nón nhựa bung ra khỏi lớp nón sắt trôi bập bềnh theo dề lục bình lấp lánh nắng đầu năm trên phiến lá..

 

 

Anh ra lệnh cho người thượng sĩ thường vụ kéo xác người lính vào bờ, cùng lúc khám phá thêm hai thây mới; thân áo bà ba căng cứng, rách tơi tả, lũ còng gió bám vào những lỗ thủng nhão loét, nửa người từ thắt lưng ngâm dưới nước, phần thân ngưi trên kẹp giữa đám dừa nước, ô-rô.  Nước xâm sấp xô đẩy vào ra, thây ngưi chuyễn động như động tác muốn bò lên b.  Khi kéo xác ngưi lính lên, ngưi hạ sĩ quan nhìn anh, khẽ hất hàm về phía hai thây chết…  Thôi để nó nằm đấy, kéo lên làm gì.  Anh nói trống không.  Tôi sợ để đấy làm dơ hết nước, mà cũng thấy tội nghiệp.  Ừ, ông muốn làm gì thì làm.  Anh đột nhiên nôn khan khi nhìn xuống xác người lính…  Thằng nầy hôm kia đi phép thăm bà già đâu trong Chợ lớn  đây mà.  Chiếc máy thâu thanh bọc vải dù  mang trước ngực anh ta vỡ toang.  Mặt ngưi lính tái thâm đau đau.  Anh cúi đầu bỏ đi.  Có cảm giác mình cũng chết một phần.

 

 

Anh bước lên mặt đường, lớp đá  bị đào xới tung toé, lỗ chỗ.  Trên giãi đất đá điêu tàn rời rã những xác chết không toàn thân. Con chó gục đầu cắn một đoạn xương ngưi chạy lẫn khuất giữa vưn dừa cụt đầu cháy nám.  Chẳng biết xương dân hay xương lính, lính cộng sản hay lính cộng hòa vì chỉ là đoạn xương chân, tay.  Mùi thây chết ngây ngây theo cơn gió càng đậm thêm trong sắc nắng thiêm thiếp đầu năm.  Một ngày đầu năm miền Nam năm 1968.  Cũng một năm Thân như năm nay.  Hôm nay, anh đi từ cầu An Lộc, cầu sắt An Phú đông lên ngã tư Đại Hàn mất năm phút honda.  Ngày năm ấy, mất năm ngày.  Có th lâu hơn.  Thôi dẫu gì cũng hết chiến tranh, ngui Việt mua hòa bình với giá quá đắt.  Trong trị giá nầy có máu của mỗi ngưi.

 

Trên đoạn đường năm phút honda, anh sống với nỗi đau hai mươi bốn năm trước. Chỉ khác, ngày xưa anh có đồng đội, bạn hữu vây quanh chia sẻ, đấy lại là dịp đầu năm nắng vàng tươi và tri gây gây ấm.  Đêm nay  anh qua đoạn đưng nầy một mình và chiều cuối năm  tháng mưi một âm lịch. Tri se lạnh, gió bạt mưa trái mùa ẫm ẫm rây rây.

 

 

Ba bóng người đứng nép vào nhau dưới mái tranh  chòi quán đóng cửa bên cạnh đưng dốc lên cầu Ba Thôn, cầu bắt qua con kinh nhỏ đầu xã Thạnh Lộc, nơi đơn vị anh thiệt hại ba sĩ quan khi điều quân vượt qua cầu tiến chiếm khu chợ.  Cả ba đồng cấp đại úy, có ngưi thuộc khóa trước và ngưi cùng khóa sĩ quan với anh.  Mỗi lần đi qua đây, anh luôn nhớ hình ảnh hàm râu lởm chởm của Khiêm, cầm người bị đạn nghếch nghếch khi thở hắt hơi cuối cùng.

 

 

Cũng một năm Thân như ngày nầy

 

             Bao lâu xong hết phần phiền muộn

 

             Theo giòng bóng tối ta qua đây

 

             Kẻ mất…. Người sống tiếp cơn mộng

 

 

Anh chỉ còn cách nghĩ đến những câu thơ rời rạc khi đi qua mối tử-sinh.  Ba bóng người loáng thoáng ẩn hiện…  Họ là ai?  Khoảng đưng nầy không người qua lại muộn.  Người thôn quê vốn ngủ sớm, cũng là cách tiết kiệm đèn dầu.  Anh quay xe, ghé sát mái hiên… Anh chị và cháu đi đâu?  Cùng lúc nhận ra, gia đình gồm bốn chứ không phải ba, trên tay ngưi đàn ông có một gói nhỏ, đứa bé còn trong tháng, hai chân lòi ra như chân chó con.

 

…Dạ chúng cháu lên ngã tư An Xương.  Giọng người Bắc vùng quê, tội nghiệp, than vãn chịu đựng.

 

– Ngã tư An Xương xa lắm, cách đây đến hơn mười cây số…

 

– Vâng, chúng cháu biết.  Người đàn ông nhướng cặp mắt m đục về phía anh chứng tỏ tính chắc chắn của lời nói, chấp nhận hoàn cảnh.

 

…Làm gì được cho gia đình nầy?  Hai vợ chồng còn trẻ, đứa con gái nhỏ dắt tay và đứa bé nằm trong đống tả.  Thôi nhé, tôi biếu anh và cô chút tiền đi đưng, ở lại đây đi, mai đi tiếp, đường còn xa lắm.

 

 

Cho tay vào túi quần lấy hết tiền lẻ.  Đưa rất lẹ và phóng xe đi. Anh không muốn nghĩ gì và nghĩ thêm gì đây.  Những người chết trên đoạn đưng nầy, xuôi giòng kênh rạch, nơi lưng cầu và người sống kia…  Ai nhọc nhằn hơn ai?!  Người chết quả thực thua thiệt, nhưng người sống có được gì.  Anh ngừng xe giữa cầu sắt Lái thiêu, cầu bắt ngang sông Sài gòn, nối Gia-định, Bình-dương.  Sông dâng khói lớp lớp, m khúc quanh chảy về hướng Bình triệu.  Ông già ăn xin quen mặt vẫn còn ngồi dựa thành cầu.

 

 

– Khổ quá ông ơi…  Giờ nầy sao còn ngồi đây, leo lên tôi chở về trong chợ, xin ai được nữa…

 

Ông già hếch mặt cười cười…  Nụ cười trẻ nhỏ vô tư, tốt bụng…  Khổ gì ông ơi …A Di Đà Phật, đi ông với tui đâu đã khổ, ông dzề đi…  Mặc tui…!!

 

– Thôi cũng được, nếu ông không muốn, hôm nay tôi cũng hết trơn tiền lẻ rồi, cho người ta dưới Thạnh Lộc hết trọi.  Anh mệt nhọc, giận dỗi bâng quơ.  Cảm giác có lỗi và vô ích.

 

– Không sao, hôm nào có thì cho.  Ông lão gõ gõ chiếc lon lên sàn cầu, nhìn xuống giòng sông, ư câu vè, câu hát lẫn lộn.

 

– Chào ông, tui về.

 

Ông già bắt chéo chân, ngồi bình yên…  Ừ…  Mắt vẫn không ri mặt nước thấp thoáng dưới xa qua màn mưa, chập chờn ánh lửa từ lò gốm bên bờ hắt tàn đỏ.

 

Khi qua lồng chợ Lái Thiêu tri đổ mưa nặng hạt, anh ghé vào một hàng hiên.  Đám đông người không rõ mặt, đứng chen chúc, tiếng ngắn hỗn độn càu nhàu, thở than…  Chiếc loa ở nóc trạm thông tin đang loan báo về những thành quả thâu hoạch, sản xuất, tin tức chính trị… “Nhờ đồng chí bí thư tỉnh ủy tỉnh Sông Bé cùng các cấp ủy đã xuống làm việc tận cơ s và chỉ đạo sâu, sát nên nhà máy đã sản xuất được những mặt hàng tốt, chất lượng cao, hoàn tất kế hoạch năm 1992 trước thi hạn, đạt và vượt chỉ tiêu do lãnh đạo đề xuất….Công chúa Thái Lan đã đến thành phố Hồ Chí Minh, phái đoàn thành ủy, ủy ban nhân dân thành phố, mặt trận tổ quốc, hội liên hiệp phụ nữ, hội đoàn kết Thái-Việt…  Các em bé thành phố đã dâng lên công chúa những bông hoa tươi thắm…”. Anh nghĩ đến đoạn đưng còn lại, ngõ nhỏ dưới lùm tre, lò bếp, ánh đèn dầu vàng đục và căn nhà kín cửa im lặng. Yên lặng đến mức nghe được chân hương cháy đỏ rũ tàn trên bàn thờ ảnh mẹ.  Anh hằng nghe âm động im lặng đó, tiếng đêm chuyn dịch và trầm trầm sông trôi nơi xa…  A Di Đà Phật…!!  Đi tôi với ông đâu đã khổ…  Thật đấy chứ nhỉ, đi ông lão ăn xin đâu đã khổ…  Một thân, một mình, lát nữa về lồng chợ, chỗ ngủ quen thuộc, xị rượu lãng quên…  Và anh, cũng không có gì đ gọi là khổ; sung sướng nữa là đằng khác…  Lo gì? Tính gì? Trí não trống không thênh thang, không nhu cầu, không hệ lụy; dẫu là căn nhà tranh cũng kín đáo, ấm áp bội phần so với một sạp chợ bẩn thỉu, nơi ông lão ngủ nh và chắc chắn quá đỗi lớn lao đối với mái hiên của  gia đình nặng con nhỏ trú đỗ trên đưng xa…  Hai đứa nhỏ quá…  Trời ơi!  Anh lấy áo khoác ni-lông trong túi xách ra.  Mấy ngàn đồng lẻ vừa rồi  thay đổi được gì đâu.  Anh quay đầu xe trở lại, hướng cầu sắt.  Chái hiên nơi chân cầu Ba Thôn trống vắng.  Anh đi thêm vài phút, dưới luồng sáng đèn xe, những hình ngưi chạy lúp xúp, con trẻ bước theo bố mẹ ngã nghiêng…

 

 

Đứa bé gục xuống ngay trên tay lái xe honda, người đàn ông (đúng ra  đang ở tuổi thanh niên, chỉ do khốn khổ hóa nên tơi tả, khờ khạo) vòng tay ôm chặt thân người anh, gói tay nải lèn giữa bụng.

 

…Ông cho cháu giữ thế nầy nhá, cháu bị mù.  Giọng nói còn trẻ, chân thật, vùng quê xứ Bắc.

 

– Anh ở đâu, người Bắc sao đến nơi nầy?

 

– Vâng cháu là người ngoài ý, cháu, ý… là bộ đội!!

 

– Bộ đội sao đến nỗi thế, ở đâu đến đây?

 

– Vâng… nhà cháu đi từ Lộc Ninh xuống.

 

– Gì…từ đâu..??

 

– Dạ… Lộc-ninh, vùng kinh tế mới ở trên ý…

 

…Lộc Ninh, An Lộc, cầu Cần Lê, Xa Cam,…  Chơn Thành, Bến Cát, Bình Dương…  Đoàn người gánh con chạy giặc  năm 1972,.. chạy “hòa bình” 1973…  Và cuối cùng chạy “giải phóng” tháng Ba, Tư năm 1975.  Người Thượng, người Kinh, người vào Nam cạo mủ cao su trước 1945, người di cư 1954…  Đoạn đường trăm cây số nầy người Việt Nam sao chạy hoài không hết.  Không bao hết những người bế con, cõng cha mẹ già đi dọc theo những dặm trường thống khổ quê hương…

 

… Bé..Bé!!…  Dậy đi con, dậy để ông dễ lái.  Người cha lay đứa con nhưng vô hiệu. Nhà cháu đi từ hôm kìa, ngày nghỉ đêm đi. Cháu bế con, mẹ cháu dẫn đường, dắt cháu bé nầy; tội nghiệp cháu mới tám tuổi, phải đi hai ngày đưng, vừa đi vừa ngủ gật… Không tiền đi xe, đi đến đâu xin ăn đến đó.

 

– Bộ đội, sao anh phải đến tình cảnh nầy?  Anh bỏ dở câu hỏi, vì chợt nhận ra đang nói đến một điều thừa.

 

– Cháu bị mù ngày giải phóng Đà Nẵng, khi vào đánh chiếm chỉ huy sở quân ngụy,

 

– Còn ai ở đấy để anh đánh đến đỗi bị thương mù mắt?

 

– Chẳng ai làm cháu gì hết… Bọn ngụy chạy tất… chỉ do cháu tự gây ra mà thôi… „y là nhân bắn quả B40 vào cụm máy, máy nó phát nổ và cháy ra cái khói sáng gì đấy…  Mắt cháu nhiễm phải nên bị mù ngay… y sĩ ngụy cũng không chữa được

 

– Bác sĩ nào của ngụy?

 

– Thì quân giải phóng bắt được tại đấy, chúng nó có bao nhiêu là thuốc, phòng mổ rét đến khiếp…  Cái số cháu quả không may…  Thế nên rốt cuộc phải mù!!

 

– Anh mù thế mà không được trợ cấp gì sao?

 

– Có ạ, trên cho cháu nằm viện, xong chuyển ra trại an dưỡng… Cháu gặp mẹ cháu tại đấy. Sau nầy lãnh đạo điều gia đình cháu đi Lộc Ninh. Từ năm 1982, mười năm rồi đấy.

 

– Lên Lộc Ninh làm gì?

 

– Dạ, làm kinh tế… vùng kinh tế mới quy hoạch trồng tuyền cao su,

 

– Anh mù thì làm gì được…

 

– Mẹ cháu đấy chứ, cháu chỉ ở nhà nom các con.  Đến khổ, phải để cho hai đứa lớn vào rừng kiếm củi, chúng đạp phải mìn, mìn bọn ngụy để lại đấy mà… (giọng anh nghẹn lại…)…  Còn hai đứa bé nầy mắc phải sốt rét, cháu sợ mất con nên bỏ về đây… Con bé nó đang sốt đấy ạ.  Giọng k bình thản trở lại, hình như có phần hân hoan vì tìm được nguyên cớ chính xác làm chết hai đứa con lớn (nghĩa là không thuộc phần trách nhiệm của anh), và đã quyết định đúng đắn để bảo vệ hai đứa còn lại.  Nỗi sung sướng của người thoát cảnh chết, rất bằng lòng cùng phần cơ th bị mất đi.

 

 

Khi xuống cây xăng ở ngã tư An Xương, người lính tỏ vẻ ngần ngại.  Anh hiểu ý…  Đừng lo, tôi đã hứa… thế nào tôi cũng làm.  Đợi một lát cho mát máy, tôi vòng lui chở vợ anh, từ đó lên đây một gi, một vòng mất hai tiếng.  Anh đừng sốt ruột.

 

– Không, nhà cháu không có ý ấy, chỉ thấy ông quá vất vả vì chúng cháu…  Cháu không biết lấy gì đền đáp…  Cháu muốn nói…

 

– Đừng thắc mắc, tôi không lấy tiền xe anh đâu, anh không nhớ lúc đầu đêm tôi có biếu tiền cho anh và cô mà…

 

– Ô..hay, thế ông là người cho chúng cháu tiền khi đứng trú mưa đấy phỏng?!

 

– Tôi đấy, không những thế tôi còn cho nhiều hơn được nữa.  Đợi tôi đưa vợ con anh đến hẳn tính

 

– Ông nói thế, chứ chúng cháu không dám đòi hỏi gì thêm.  Người lính đến giờ nầy vẫn không tin sự việc đang xẩy ra, đừng nói điều lớn lao hơn.  Và để thêm phần chắc chắn anh hạ giọng…  Ông ạ…  Cho cháu vô lễ nhá…

 

– Anh cứ nói…

 

– Ông là cán bộ công tác ở cơ quan nào đấy ạ…

 

Anh cười trong bóng tối…  Không phải đâu…  Thật ra anh muốn có lời…” …Tôi là người hứng trái B40 ngày anh vào “giải phóng” Đà Nẵng. Anh mất đôi mắt và hai đứa con, nhưng tôi và nhiều người nữa mất hẳn cuộc đời.  Mất hết cuộc đời. ”  Anh lên xe sau tiếng cười… nói lớn…”  Bố tôi cũng bộ đội như anh, nhưng ông ta chết rồi!”  Anh nói điều thành thật.

 

 

 

Người đàn bà bế con đứng chờ anh trong bóng tối.  Khác với người chồng bị mù, chị ta xoay trở vụng về với đứa con trên tay trong động tác leo lên ngồi sau yên xe.

 

– Chị sao thế, chuyền tay nãi cho tôi, đặt cháu bé giữa tôi và chị, nhớ giữ cho kỹ… Té là khổ đấy…

 

– Dạ… Ông chạy chậm chậm cho con…  Con bị hư tay, giọng người Quảng Nam buồn bã phiền phiền.

 

– Tay chị bị hư làm sao?

 

– Con… con là… “dũng sĩ diệt Mỹ”!!

 

– Chị có nói quá không đấy?

 

– Con thưa thật mà…  Con còn có bằng tuyên dương “Anh hùng lao động” và “Huân chương kháng chiến” lát nữa con trình ông xem.

 

– Tôi xem làm gì.  Và đ nhắc nhở chị ta khỏi ngủ, anh đi chậm…  Nghe được và ráp nối nên câu chuyện sau….

 

….Năm 1965, người đàn bà ngồi sau lưng anh là một cô bé gái mười hai tuổi.  Bé nhập vào đám người sống quanh các bãi rác, căn cứ Mỹ… Quảng Nam, Đà Nẵng nơi lính Mỹ đổ bộ đầu tiên, bãi Nam Ô.  Từ Nam Ô, quân Mỹ mở rộng vòng đai phòng thủ chung quanh Đà Nẵng, chiếm đóng các cao độ trên dãy núi Tường Phước, những đầu mối giao thông dẫn vào thành phố, mặt bắc phi trường.  Bé hằng ngày hai tay hai chai coca đến gạ bán cho đám lính thiết giáp bảo vệ toán công binh làm cầu Cẩm Lệ, nhánh sông Thu Bồn chảy qua Đà Nẵng vòng dưới chân núi Non Nước. Hai chai coca thỉnh thoảng mới được bán, nhưng hằng ngày bé trở về với nhiều gói kẹo, sô-cô-la bọc giấy bóng lắm màu sắc.  Lính Mỹ vốn yêu trẻ con, cô bé lại có nét mặt thanh tú, mái tóc khô se che nửa mặt không làm cho bé mất nét linh động, tinh anh. Đám lính thiết giáp, lính công binh dần quen thân với bé, họ đưa cô nhỏ lên ngồi trên khung pháo tháp chiến xa, cho vào ẩn trong các vòm kim loại (đ  sẵn làm cống) khi tri mưa gió.  Họ gọi bé “baby coke”.  Thoạt đầu cô không hiu sau dần quen. Bé cũng lần biết và gọi những tên nghe tức cười… Bốp, Dôn… hoặc nhiễu âm như “Lồ.. me lồ”… v..v.  Và bé cũng dần quen với những công việc không ai biết…  Đổ cát vào nòng súng, nhét những gói ni- lông nhỏ đựng một thứ nước gì đấy vào những lỗ hổng cuả máy phát điện, máy cày, máy nổ, máy truyền tin…  Tất cả do mẹ dặn sau một thời gian “điều nghiên”.  Điều nghiên, chữ của chú sáu Cơ nói với mẹ nhiều lần.  Sau thi gian “điều nghiên” và thực hiện đúng những lời căn dặn trên, bé được mẹ yêu thương, chiều chuộng hơn hẳn các em.  Cầu làm xong, đám lính công binh đi chỗ khác, lính thiết giáp ở lại, làm nhiệm vụ hằng ngày di chuyển theo con lộ, quanh căn cứ, có những người lính đi bộ dọc hai bên đường theo đoàn xe.  Từ nhà thường nghe những tiếng nổ lớn, lính Mỹ bắn vu vơ, xe thiết giáp sùng sục chạy xuống ruộng và trực thăng bay lồng lộn bên bãi cát, trên đồng lúa.  …Bé biết tiếng nổ đó ở đâu và do ai.  Bé có đuợc mối hân hoan pha lẫn nặng lòng.

 

1968, cô bé đã là một thiếu nữ cứng cáp khôn lanh đ không đi bán coca nữa, mà hành nghề rửa xe nơi bãi cát dưới chân cầu. Bé kiếm được những món tiền khá dễ dàng mà công việc cũng không lấy gì làm nặng nhọc. Mẹ còn cho phép bé lân la thân mật với những người lính trẻ.  Những người lính tóc vàng, mở lớn đôi mắt xanh, thường nói với giọng đùa cợt… “I love you baby…”.  Cô không hểiu nghĩa lời nói nhưng chắc đó là một ý vui, nên chỉ lắc đầu cười rạng rỡ.  Bé cũng biu lộ mối cảm tình với đám lính bằng cách rửa xe thật sạch, trả lại những đồng tiền quá giá biu, nhưng cũng biết tránh né những đụng chạm lộ liễu với ánh mắt vụt trở nên nghiêm nghị, lách thân mau mắn khỏi những ngón, bàn tay suồng sã.

 

Do từ những tiếp xúc, nghe ngóng, dò hỏi…  Cô dần biết khoảng thời gian, số lượng xe, người di chuyển vào ra qua ngã cầu Cẩm Lệ.  Những tiếng nổ vì thế trở nên chính xác và hiệu quả hơn.  Trên mặt cát dấu máu người rây rây kéo dài đến mấy ngày sau.

 

… Nhưng tất cả cũng tại vì con.  Người đàn bà kết luận.

 

… Tại vì cô như thế nào?  Anh chuyển xưng hô vì một nỗi e ngại mơ hồ, phần mệt nhọc bất chợt nên câu hỏi lạnh nhạt trống không.

 

… Do con ham quá!!  Thấy các chú quá khen nên hôm đó thay vì chỉ chôn một trái, con cột thêm khối bê-ta, cái kíp nổ nó bị chạm, con bị toét bàn tay…

 

– Sau khi kíp mìn bị nổ, ai đưa cô đi cứu cấp?

 

– Mỹ…  Mấy người Mỹ thường ra giữ đường, rửa xe… Họ kêu trực thăng xuống. Trực thăng đáp ngay lên chỗ chôn mìn…  Mìn nổ, chiếc tàu bay bị bung lên…  Người Mỹ bắn súng đại liên chết liền.  Ông ta chết đè lên người cháu, nên cháu chỉ bị thương ở cánh tay.  Tay cháu hư là vì lần nổ thứ hai nầy, bị phá lên thấu vai.

 

– Sau đó sao nữa?

 

– Con nằm nhà thương Mỹ, xong chuyển qua nhà tù  của ngụy…

 

– Sao lại nhà thương Mỹ?

 

….Vì… vì.. họ không biết cháu chôn quả mìn và làm những chuyện trước đó.  Ngày nào cũng có cô y tá Mỹ biết tiếng Việt Nam vào  k chuyện, cho bó bông, và nhiều đồ chơi, nhưng sau đó bên Việt Nam người ta biết… họ vào nhà thương lấy cháu đi.

 

– Ngưi Mỹ không nói gì cô à…

 

– Lúc đầu, ở nhà thương ngưi ta không cho cháu đi,  nhưng sau đó cô y tá bảo vì cháu là “vi-xi ” nên phải trả lại  cho phía ngụy.  Bọn lính Sài gòn đem nhốt cháu tuốt trong Biên hòa.  Trong nhà tù cháu được vào đoàn, sau đó kết nạp đảng do chi bộ nhà giam Tân Hiệp chủ trì.  Các dì bảo cháu là một “chị Ba Định” hoặc “dì Nguyễn Thị Riêng” của đất Quảng anh hùng…

 

– Cô ở tù bao lâu.  Anh ngán ngẩm, tưởng đang kéo khối nặng trì trợm một cách vô ích.

 

– Đâu khoảng hơn hai năm, năm 1973, bọn ngụy trả cháu về cho chính phủ lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam.  Ngày giải phóng Đà Nẵng con vào tiếp thu, xong được bố trí công tác tại trại an dưỡng thương binh.  Cháu gặp anh ấy ở đấy, trên kết hợp hôn nhân cho chúng cháu. Ban quản lý bệnh viện bảo chúng cháu là “điển hình tiên tiến” của tuổi trẻ thời đại Hồ Chí Minh.  Những chữ, cụm từ  trơn tuột không vấp váp…

 

Anh và cô chỉ được chừng ấy thôi sao…?!!  Anh nghe có nỗi hn giận u uất, cho người và cả cho mình.

 

– Cháu được biểu dương, có “Huân chương kháng chiến”, được danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.  Và giọng nói trở nên mạnh mẽ hào hứng…  Năm 1981, cháu được cấp ủy Quảng Nam, Đà Nẵng đề xuất làm đại biu tuổi trẻ đi dự đại hội liên hoan thế giới ở La-ha-ba-na, nếu đừng có những mảnh vụn vì trái mìn làm nám ở mặt và biết nhiều chữ, cháu sẽ đọc diễn văn ở đại hội chứ không phải chị Võ Thị Thắng.  Nhưng cháu được chụp hình chung với dì Ba Định và đồng chí “phi-đen-cát-ít-xì-tơ-rô”.  Giọng chất ngất hân hoan.

 

– Cái hình còn không?  Anh hỏi nhạt nhẽo vì câu chuyện không th chấm dứt chứ không do tò mò tìm biết.

 

– Còn chớ, và được sang ra làm nhiều tấm to bằng nửa cái cửa sổ treo ở Nhà Thanh niên, Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, thành đoàn và cả Nhà Văn hóa thiếu nhi.  Đó là tài sản chung của tập th chứ không phải của riêng cháu.  Các chú cấp cao nói như thế và cháu cũng phải chấp hành thôi.

 

– Thế cô đi Lộc Ninh từ bao gi?  Anh muốn kết thúc câu chuyện vì đã  đến đim không còn điều hân hoan…  Cách chấm dứt mau lẹ một mối đau.

 

– Sau khi con đi Cu-ba về; các chú ở trên chấp hành nghị quyết của lãnh đạo, theo lời dạy của Bác Hồ “..Đâu cần thanh niên có.  Đâu khó có thanh niên…” ..Lộc Ninh là vùng mới giải phóng lại bị càn nặng trong chiến tranh nên cần cán bộ khung làm cơ sở, nhất là đ tuyên vận thanh niên.  Những từ ngữ quen thuộc tuôn ra mau chóng, người đàn bà đã quên mất cánh tay hư, người chồng tàn tật, hai đứa con bị đạp mìn, đứa bé trong cơn sốt rét, trăm cây só đường dài từ Lộc Ninh và một tương lai khởi đi từ ngã tư An Xương, một nơi đang đi đến.

 

 

Chín giờ đêm, anh đến ngã tư An Xương lần thứ hai.  Người chồng và đứa con gái ngồi chở mái hiên, anh ta giương tròng mắt trắng đục nhìn xuyên màn đêm dày ngóng vợ, con.

 

…..Mẹ…mẹ.. Mẹ đến rồi bố ơi…!!

 

Người thanh niên đứng vụt dậy.  Anh khua gậy lên mặt nhựa đường…  Mình… mình… Mẹ… mẹ… đâu…  Và khi giữ được vợ con trong tay, anh bật khóc…  Bây giờ nhà cháu xin nói thật, nhà cháu xin lỗi ông, cháu tưởng ông không trở lại, ông đưa mẹ cháu đi luôn mà… mà…  Cháu, mà cháu cũng… muốn thế!!…  Mẹ con nó quá khổ…  Cháu không đành!!

 

Anh cười thảm hại…  Tôi đưa vợ con anh đi luôn làm gì và đi đâu?!  Tôi cũng không khá hơn tình cảnh của gia đình anh, còn tệ hơn nữa là đằng khác!  Thật ra anh cũng đã hiu rõ ý nghĩ của người thanh niên từ chuyến đi đầu tiên.  Không có tình thương trong cuộc sống của những con người nầy, nếu có cũng quá đỗi hiếm hoi.

 

Anh lấy trong túi xắc tất cả số tiền vợ chồng người bạn vừa đưa khi chiều đ dùng vào dịp Lễ Giáng Sinh và đầu năm dương lịch…  Đây nhé, tôi chỉ có chừng nầy, anh và cô giữ cho cháu, ngày mai dùng đi đường, cháu nhỏ không còn sức đi thêm nữa…  Nhưng anh và cô đến ngã tư An-Xương nầy làm gì?

 

– Chúng cháu định đi Tây Ninh.  Người vợ sau khi đã đầy đủ chồng con, lấy lại thế chủ động, mau mắn như sẵn có.

 

– Làm gì trên Tây Ninh?

 

– Chúng cháu đi… ăn xin.  Người thanh niên can thiệp.  Đôi mắt mù cho anh mối tự tin không ngượng mặt.

 

– Đi ăn xin thì cần gì phải lên Tây Ninh, sao không về Sài gòn…  Anh cũng không chờ câu trả lời, phóng vụt đi. Điều phiền não trong lòng đã quá đỗi lớn lao. Hình như mắt cay cay.

 

 

Khi anh trở lại cầu sắt Lái Thiêu , trời đã qua khuya, mưa tạnh hẳn, trời cao, mây bàng bạc, trăng hạ tuần biêng biếc.  Anh ngừng xe nơi ông lão hành khất ngồi ban chiều, nhìn xuống giòng nước sâu đen…  Sóng cuốn trăng trôi theo dáng sông. Ánh lửa chài đêm chập chn đầu sông, phía Bình Dương…  Nhìn trái, phải, hai nhịp thành cầu im lặng ướt sương và cơn mưa vừa qua.  Nghĩ được gì đây…  Có con thuyền nhỏ dật dờ xô đẩy dưới chân cầu.  Anh đi đến, nhìn xuống.  Bước chân chạm sàn cầu nghe âm u…  Thuyền tối sẫm, chỉ bồng bềnh dáng người ngủ say, chân buông thỏng trên sóng nước…  Hóa ra lời ông già ban chiều mới thật đúng …A di Đà Phật…ông, tôi đâu đã khổ…  Kể cả người nằm say trên giòng sông dưới kia.

 

Những ngày cuối cùng ở quê hương.

 

Viết cho tất cả những người đã sống, chết của hai bên

 

Để không có gì thay đổi như giòng sông…

 

Lái Thiêu,

Tháng 11, năm 1993.

Phan Nhật Nam