Phan nhật Nam: Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba

* Viết về những người lính, người vợ của hai bên
* Gởi riêng Lý, KB; Lợi “râu”, và “Anh Đại”.

1. Tháng 9, 1972 Quảng Trị

Trong căn hầm tối nhờ nhờ mờ đục đào sâu dưới đất vùng đồi dương liễu khu Nhà Thờ La Vang, Tỉnh Quảng Trị, Trung Sĩ Phan Tâm thầm thì tiếng nhỏ với viên Thượng sĩ Thường Vụ Tiểu Đoàn 18 Thủy Quân Lục Chiến: “Ông thầy nói giùm với “ông Đại” cho tôi về lại với đại đội I.” Tại sao? Thường Vụ Lý tròn xoe cặp mặt đứng tròng nóng rực những tia gân đỏ do thức khuya và mệt nhọc nhìn qua khoảng sáng tối cố tìm xem nét mặt của trung sĩ Tâm. “Tại vì ở đây, đại đội chỉ huy yên quá mà trên thằng 1 thì đụng lia chia, tôi không nỡ bỏ anh em trên đó.” “Dẹp! Mầy không thấy bao nhiêu chuyện đang bầy hầy, với chẳng lẽ bộ chỉ huy tiểu đoàn nầy là đơn vị văn phòng ngồi chơi xơi nước sao mầy.. Lại thêm vụ ông Anh của đại đội 1 thì vừa bị bể gáo. Mầy về lại với ai trên đó? “Ông Đại” đang điên lên vì vụ mất ông thầy của mầy. Coi chừng mầy vừa bò quá Ngã Ba Long Hưng thì đã kéo xác mầy trở về lại đây. Thằng vi-xi đầu trọc nơi cao điểm Trường Nguyễn Hoàng đang đợi mầy đấy! Cái thằng khốn nạn vừa cho ông thầy mầy và mấy đứa con của đại đội 1 đi phép dài hạn.. Đ..m bàn giao với nhảy dù chưa kịp đánh đấm gì cả đã mất gần hết một đại đội. Đừng có ham! Về đi!” Thượng sĩ Lý hít mạnh hơi thuốc quân tiếp vụ tỏ ý muốn chấm dứt câu chuyện sau một tràn gầm gừ, nguyền rũa. Trung sĩ Tâm kèo nài tha thiết: “Cũng vì vậy tôi mới xin thượng sĩ nói với trung tá cho tôi về lại trên đại đội 1.” Thường vụ Lý nhìn chăm Trung sĩ Tâm qua khoảng tối và hiểu ra: Khi người lính đã gọi đến những cấp bậc tức câu chuyện đã thật sự nghiêm trọng, khẩn cấp. “Được. Để tao đưa mầy lên gặp ổng.. Mà vết thương nơi chân mầy tháng trước dưới Hải Lăng nay đã khá chưa?” Thượng sĩ Lý trầm giọng thân mật, anh đưa bao thuốc nhăn nhúm về phía trung sĩ Tâm.. Làm một điếu đi rồi bò theo tao. Ánh sáng hộp quẹt loé lên. Đến bây giờ thường vụ Lý mới nhìn rõ mặt gã trung sĩ trẻ tuổi.. Anh gật gù: “Bọn nó gọi mầy là “Tâm em” cũng phải. Mầy nhỏ như thằng con nít không à..” Hai người cúi thấp xuống bò theo những giao thông hào có nắp che chắn về phía hầm chỉ huy của tiểu đoàn.

Trung Tá Quân, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 18 Thủy Quân Lục Chiến và ban chỉ huy đang ngồi chen chúc ngột ngạt quanh chiếc bản đồ ngang dọc những mũi tên xanh đỏ dưới ánh sáng vàng yếu của mấy bóng đèn nhỏ thắp bởi pin máy truyền tin. Tất cả đồng mặc áo lót ngụy trang màu sẫm, mồ hôi đẫm ướt mặt chảy đường lớn trôi xuống ngực. Ông Quân khản giọng mệt nhọc: “Đây là những mục tiêu của tiểu đoàn mình.. Bắt đầu từ đường Lê Huấn, dài theo đường Quang Trung gồm trường Phước Môn, nhà thờ Thạch Hãn, ty cảnh sát Quảng Trị.. Nhưng muốn chiếm được thì phải clear mấy cái chốt, quan trọng nhất là đám chốt kiền ở cao điểm Trường Nguyễn Hoàng chỗ có thằng vi-xi bắn sẻ đã hạ ông đại úy Anh.” Trung tá Quân ngưng nói, ông châm điếu thuốc, đè xuống xúc động.. “Tôi đã nói với ông Anh rồi, bên nhảy dù từ tháng 7 đến giờ bị mấy cái chốt nầy kiềm chặt.. Mấy ông phải rất cẩn thận, kỳ nầy không phải như ở Huế năm Mậu Thân. Đây là bọn 320 và 325 tổng trừ bị ngoài Bắc mới đưa vô. Nó không được phép rút lui để đám vi-xi bên Paris được thế nói chuyện với Mỹ. Ở Huế năm 68 mình chỉ đụng với bọn địa phương, chủ lực miền, còn bây giờ là trận địa chiến với lính chính quy Bắc Việt. Hầm ở đây là công sự của mình bỏ lại giúp nó chịu được cả bom.. Khổ thật, ông Anh lại mới lấy vợ..” Trung Tá Quân ngừng nói quay về phía đầu căn hầm khi nghe tiếng chào của viên thường vụ.. Gì đấy ông? Trung tá, có trung sĩ Tâm muốn xin trung tá cho về lại đại đội 1. Tâm nào? Dạ “Tâm em” thằng mang máy cho ông Anh kỳ mới ra trường.. Sao nữa? Thượng sĩ Lý lục đục chuyển động.. Đó, mầy lên nói thẳng với ổng.. Trung sĩ Tâm bò tới vùng ánh sáng: “Ông Đại… dạ trung tá cho em về lại đại đội 1.” Ông Quân thoáng suy nghĩ, hỏi dồn: “Mầy xin về lại đại đội 1 làm gì?” Tâm trả lời mau như đã định sẵn: “Để xử cái thằng nơi trường Nguyễn Hoàng, rửa mặt cho ông thầy em. Em người miền ngoài nầy, lớn lên, đi học ở đây, nên em biết cách, biết đường đi vô trường đó.” Tiểu đoàn trưởng Quân cười tiếng nhỏ.. “Tưởng mầy xin về hậu cứ cưới vợ chứ xin về lại đại đội 1 thì tao ok liền.. Đây, mầy muốn đi phép 24 tiếng về Huế hay theo Đại Úy Lộc, ông thầy mới của mầy về vị trí đại đội 1 bây giờ.” Tâm hứng khởi: “Em đi liền. Hết hành quân, trung tá  cho em đi phép về Thủ Đức, gần cả năm rồi không gặp mặt vợ.” Trung Tá Quân nói vui: “Không có gì trở ngại, ông thanh toán được cái chốt đó tôi xin sư đoàn cho ông lên hai cấp, móc luôn cái lon thượng sĩ khỏi qua trung sĩ nhất. Có cả tiểu đoàn nầy làm chứng lời tôi.” Khi Trung Tá Quân xử dụng cách xưng hô “ông, tôi” với thuộc cấp tức đã là lời tuyên bố chính thức. Từ lâu ông được tiếng là “Anh Đại” do lòng kính yêu của toàn đơn vị. Khi bò ra khỏi hầm chỉ huy, Đại Uý Lộc, người có danh hiệu “Lộc râu”, đại đội trưởng cứng nhất của binh chủng mới được điều về thay thế viên đại đội trưởng vừa tử trận để thực hiện kế hoạch đánh chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị với Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến giữ nhiệm vụ mũi tiến công chính. Khi ra khỏi hầm bộ chỉ huy tiểu đoàn, “Lộc râu” chắc lưỡi cười cười nói với Tâm: “Tâm em” mầy chơi bạo thiệt, vừa rồi tao nghe mầy mới bị thương hôm tháng 6 mà nay đã xin ra lại đại đội tác chiến.. Không sợ sao em? Tâm bình thản nói gọn: “Đời có số mà đại úy..” Bỗng nhiên Tâm chợt nghĩ đến cô vợ trẻ ở Thủ Đức, nơi hậu cứ Sóng Thần của đơn vị. Đã lâu Tâm không gặp vợ, tuy nhiên cô nhỏ luôn có mặt với anh.. Vào những lúc nguy nan anh có phản ứng gần gũi với cô như một phần của bản thân hơn là một người khác phái với liên hệ vợ chồng. Nghĩ đến ngày phép sẽ có sau khi xong hành quân lòng Tâm chợt ấm áp bình an. Nhưng nỗi vui của anh không kéo dài khi nhớ lại chiếc đầu bị bắn vỡ của Đại Úy Anh, người chỉ huy mà Tâm đã theo cùng từ đầu năm 1968 ở mặt trận Thành Nội Huế khi ông Anh mới ra trường sĩ quan, và Tâm vừa mãn khóa căn bản của binh chủng về đại đội 1 mang máy truyền tin cho Thiếu Uý Anh. Hai thầy trò đã sống cùng nhau qua dài ngày lửa, đạn và sự chết. Suốt năm 1968 khởi đầu kia hai người đã hành quân hơn ba trăm năm mươi ngày  đánh từ Huế vào đến vòng đai Sàigòn, và năm 1972 nầy thì hầu như các tiểu đoàn của binh chủng không hề về lại hậu cứ ở Thủ Đức khi bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn dời ra xã Hương Điền ở Quận Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Tâm nhớ lời nói đùa của Đại Úy Anh: “Biết thế nầy mầy và tao lấy vợ người Huế còn có đường đi phép về thăm”. Tâm thấy trong mắt có cảm giác cay cay khi nghĩ về ông thầy và tiếng khóc rấm rức của cô Anh khi từ Sàigòn ra Huế nhận xác chồng ở nhà xác bệnh viện Nguyễn Tri Phương chỉ với một người thân bên cạnh – Trung sĩ Tâm hay binh nhì “Tâm em” mang máy truyền tin cho ông Anh từ năm 1968.

Trung đội phó trinh sát Lê Văn Hưu nhìn quanh những bộ đội dưới quyền đang ngồi chật trong căn hầm dưới nhiều tầng bê-tông cốt sắt của ngôi trường đỗ sụp, nén chặt, ép cứng lại sau bốn tháng chiến trận hứng đủ vô lượng đạn pháo, bom của cả hai bên. Lợi dụng thời gian ngắn yên lắng giữa những trận đánh, sau các cuộc xung kích, phản công, theo đúng chỉ thị của chính ủy đơn vị mà nay đã thành thói quen, Hưu bắt đầu cuộc học tập trong ngày với các tổ viên bằng lời tố cáo đã được học tập thuộc lòng: “Chỗ nầy là trường học của nhân dân nhưng bọn ngụy ác ôn đã phá sập trước khi rút lui từ đầu tháng 5. Thủ trưởng lệnh cho đơn vị ta chốt ở đây là điểm xa nhất để không cho bọn ngụy phản công trong kế hoạch chiếm lại cổ thành nầy. Chúng ta là đội quân tiên phong của đảng quang vinh và bác Hồ kính yêu vì nhân dân giải phóng Quảng Trị để đồng bào thoát khỏi ách kiềm kẹp của Mỹ-Ngụy.. Hưu ngập ngừng thoáng ngắn, đổi giọng rắn rỏi: “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta. Bọn ngụy quân ngụy quyền là tay sai của đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta.. Bộ đội ta vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh chiến đấu dưới lãnh đạo của đảng quang vinh và bác Hồ kính yêu… Đánh..  đánh cho Mỹ cút.. Đánh.. đánh cho ngụy nhào thống nhất đất nước thực hiện nhiệm vụ chiến sĩ tiên phong của phong trào cộng sản quốc tế do Liên Xô và Trung quốc lãnh đạo…” Sau phần phát biểu hướng dẫn, Hưu ra hiệu cho gã bộ đội giữ súng phóng lựu B40 ngồi bên cạnh.. Đồng chí Trung phát biểu.. Gã bộ đội vẫn cúi mặt xuống đất lập lại ngắt khoảng qua tiếng thở bị nén.. “Đế quốc.. đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, là kẻ thù.. kẻ thù của.. nhân dân..ta…Bọn ngụy quân ngụy quyền.. là kẻ thù, kẻ thù của..nhân dân ta..” Khi các tổ viên thay phiên lập lại lời học tập, Hưu nhìn quanh, ra bên ngoài qua lỗ hổng của căn hầm.. Toàn cảnh thị xã Quảng Trị chỉ là một khối gạch đá vụn vỡ tan nát với những xác người vươn vải không còn nguyên vẹn tay, chân, đầu, mình.. Không biết là xác dân hay lính ngụy nhưng chắc chắn không phải là lính Mỹ do nhận dạng qua những bàn chân trần, ngón nhỏ bầm tím máu khô; những chiếc sọ vỡ nát (phải là sọ của người dân vì không có chiếc nón sắt) há hốc nhìn lên bầu trời luôn xám đục khói đạn pháo, hơi bom, và mùi người thây người bốc lên ong óng dày đặt.. Sau khi các tổ viên đã giáp vòng phát biểu, Hưu muốn tiếp tục kể thêm về tội ác Mỹ-Ngụy theo nội dung đã được học tập từ trước khi vào trận địa, nhưng các tổ viên hầu như không còn sức lực để ngẫng đầu lên nghe lời anh.. Hưu kìm giữ tiếng thở dài, đưa tay lên vò đầu, những sợi tóc ngắn lởm chởm nham nháp chạm vào da lòng bàn tay. Ầm! Ầm! Những trái bom bất chợt rung dội căn hầm như địa chấn trước khi nghe âm thanh máy bay lướt qua.. Khẩn trương! Khẩn trương.. Chúng nó lại phản công! Hưu và các tổ viên nhanh chóng phân tán vào các vị trí chiến đấu, anh cùng hai tổ viên theo những khối gạch vỡ bò lên điểm tác xạ cao nhất nhìn xuống con đường chạy xéo về phía hướng Nam, ngoại vi thị xã. Tổ ba người trang bị hai tiểu liên AK 47, ngoài đơn vị đạn cơ hữu hai tổ viên còn trang bị thêm đạn phóng lựu  B40 do Hưu xử dụng; anh còn được tăng cường thêm một súng trường Nga có gắn máy nhắm. Vừa bò lên vị trí Hưu vừa gầm gừ lẫm bẩm.. Địt mẹ chúng mầy.. Địt mẹ chúng mầy! “Chúng mầy” trong câu chưởi không vì lòng giận dữ bao gồm nhiều đối tượng mà chính Hưu cũng không xác định rõ là ai. Chỉ biết từ sâu trong lòng, Hưu không chưởi riêng bọn lính ngụy có thể đang bắt đầu tập trung đợt phản công mới. Quái chúng nó lại trốn mất đâu rồi.. Từ trên cao điểm, Hưu nhìn dọc theo con đường không bóng người đang sập tối với trần mây thấp u ám chập choạng khối nhà cửa tang hoang đổ nát. Có con chó cúi đầu chạy lóng ngóng, thỉnh thoảng tru dài âm ai oán rờn rợn.. Địt mẹ chúng mầy có trốn ông cũng giết tất! Lần nầy anh chưởi rõ bọn lính ngụy mà theo ý anh là nguyên nhân gây nên cảnh chết chóc tan hoang của thị xã nầy và hoàn cảnh tuyệt vọng của bản thân anh và những tổ viên trinh sát. Qua ống nhắm súng bắn sẻ, Hưu cố dò tìm những chấm đen đầu người di động thấp thoáng ẩn hiện giữa đám gạch ngoài ngỗn ngang mặc chung quanh ầm vang âm động đạn pháo binh 105 ly tiếp theo đợt bom vừa chấm dứt để yểm trợ tiếp cận cho đám lính thủy đánh bộ tấn công. Pháo từ phía bắc vùng Đông Hà, Cam Lộ bắt đầu phản pháo được bộ đội tiền sát cố thủ trong cổ thành điều chỉnh rơi chính xác giữa đội hình quân ngụy.. Thân thể người theo cùng gạch đá bay lên. Bây giờ Hưu đã hoàn toàn biến dạng nên thành một con người mới với phản ứng cơ bắp mau lẹ, trí não săn sắc ý chí quyết liệt như khi nhận lời động viên trực tiếp qua hệ thống điện thoại từ tư lệnh mặt trận Nguyễn Việt xuống mỗi đơn vị cơ sở: “Một tấc không đi. Một ly không dời. Quyết chiến, quyết thắng Giải phóng Quảng Trị. K3“Tam Đảo” còn, Thành cổ Quảng Trị còn; Triệu-Hải (Triệu Phong-Hải Lăng) anh hùng diệt gọn hai sư! (Ý nói Trung Đoàn 27 Độc Lập có danh hiệu Triệu Hải đánh tan hai sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù của quân đội miền Nam.. “ Đấy cũng là lời động viên mà đã có lần Hưu tự nhủ thầm: “Nói láo cũng vừa phải thôi, trung đoàn 27 gần hai ngàn người kia đã không còn đầy hai-mươi mống mà đánh đéo thế được với hai sư của bọn lính thủy đánh bộ và bọn dù ngụy..”. Trở về với thực tại, Kiên nhìn qua bóng tối của căn hầm đang nháng lửa rung rinh bởi loạt pháo bắn điều chỉnh càng ngày càng chính xác chứng tỏ tiền sát pháo binh đối phương đang định đúng vị trí của tổ trinh sát. Ngoài ra Hưu còn có nhận xét qua kinh nghiệm hơn ba tháng chiến đấu là chen trong đợt pháo cường tập xuất phát từ nhiều vị trí của lần nầy có những vị trí pháo khởi hành rất xa không nghe được đâu từ hướng đông, phía bờ biển với loại đạn có sức công phá mạnh gấp bội loại đạn 105 ly cơ hữu của pháo binh ngụy; loại đạn pháo mới mà Hưu không định rõ danh hiệu nầy hiện đang bao trùm toàn thể khu vực ngôi thành cổ, ngay trên đầu của vị trí đơn vị Hưu. Qua ánh lửa loé sáng từng chập liên tục, Hưu bắt gặp ánh mắt thất thần của những tổ viên khiến anh muốn nói lên lời than vản.. “Chắc không thoát khỏi trận pháo nầy đâu chúng mầy ạ, với loại pháo mới nầy bọn ngụy quyết tâm dứt điểm mình.” Nhưng thật ra Hưu chỉ có ý nghĩ với mối kinh hoàng đang dâng ngập. Trời bên ngoài đã sập tối, giữa chuỗi âm động của đợt pháo không dứt khoảng, bỗng nhiên Hưu nghe rõ thanh âm sắc đục của những miếng tôn lợp nhà do có thân người đang chuyển động bên trên.. Anh lạnh buốt sống lưng.. Bỏ mẹ, bọn ngụy đang bò dưới chân mình. Chúng đã lợi dụng lúc dội bom và đợt pháo để xâm nhập vào vị trí của anh.. Nghĩa là chúng cũng chia chung phần cơn bom và đợt pháo đang dội xuống. Thật ra tất cả ý nghĩ như trên chỉ hiện ra trong một chớp mắt theo luồng ánh sáng và tiếng nổ xé toang bóng tối cùng lúc giúp Hưu kịp nhận ra dạng một chiếc sào dài theo lỗ hổng được đưa vào căn hầm.. Và sau tiếng nổ từ đầu cây sào, Kiên chìm xuống bóng tối dầy. Màn tối thẩm của cái chết có hình khối với những tảng vách tường nhà, và gạch đá đổ xuống đè lên thân anh. Trong vũng bóng tối đầy đặc, dưới khối gạch đá ngỗn ngang chồng chất, Hưu nghe dần tiếng nói xì xào của lính miền Nam.. Đ.. má cái chốt nầy đây, không chơi trò “cần câu cá” cho nó ăn claymore theo cách “ông râu” thì còn lâu mới vào được.. Hưu nghe rõ bước chân người đang đi trên gạch đá chụp trên thân anh.. Hưu dùng sức mạnh còn lại cuối cùng lần gỡ trái lựu đạn chày nơi thắt lưng, tháo khóa an toàn, đẩy theo khe hở dò dẫm được bởi những ngón tay vô thức. Ánh sáng lóe lên. Tiếng nổ xé toang và giọng Trung sĩ Tâm gào lớn.. Chết anh Thanh em ơi!!

Đại úy “Lộc râu” nói như reo với Trung Tá Quân: “Trình Phu Quân (danh hiệu truyền tin của ông Quân) thằng “Tâm em” câu được cái chốt ở trường Nguyễn Hoàng với claymore rồi.. Phu quân cho cua (chiến xa) lên chỗ tôi rồi mình cùng vào nướng (xử dụng súng phun lửa) cái bánh chưng (chiếm Cổ Thành Quảng Trị)..” “Xong rồi, có ngay cua cho ông, và đưa thằng em lui gặp moa..” Tiểu đoàn trưởng Quân hân hoan phấn khởi. Giọng Đại Úy Lộc chuyển nhanh sang nghẹn cứng, đanh lại xót xa: “Tâm em bị thằng vi-xi xé áo luôn rồi.” Sao? Trung tá Quân hỏi dồn? Vi-xi nó chơi đòn sát thủ trước khi chết. Tôi đang tìm cách “moi” thằng em ra. Nhưng Đại Úy “Lộc râu” không còn cơ hội để tìm ra xác của “Tâm em” bởi một loạt pháo của phía cộng sản mạnh mẽ hơn từ Ái Tử, bắc sông Thạch Hãn đổ dồn xuống vị trí chốt của tổ trưởng Lê Văn Hưu trong đó có xác của Trung sĩ Tâm và hai khinh binh Tiểu Đoàn 18 Thủy Quân Lục Chiến. Và chỉ vài giờ sau có thêm rất nhiều người chết mới của cả hai bên kéo dài cho tận buổi sáng ngày 14 tháng 9 năm 1972 khi ngọn cờ Vàng Ba Sọc đầu tiên được dựng lên khối gạch, đá ngỗn ngang của Cổ Thành Quảng Trị. Sau ngày 16, khi rút quân về phía sau, Đại Úy “Lộc râu” muốn chỉ vị trí “Tâm em” đã chết cho ông Quân, nhưng anh không làm sao định được nơi người lính đã ngã xuống. Theo thống kê sau nầy về trận đánh cuối cùng trong tháng 9 năm 1972, mỗi ngày không kể phần nhảy dù, biệt động, và bộ binh, chỉ riêng Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến có khoảng một trăm-năm mươi người lính hy sinh. Phía bộ đội cộng sản thì cho biết: Ngoài Trung đoàn Triệu Hải bị xóa sổ; Trung đoàn 48B thuộc Sư Đoàn 320B, đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã (theo hồi ký phổ biến vào năm 1997 của Trung tướng Lê Tự Đồng tư lệnh lực lượng cộng sản tại mặt trận tỉnh Quảng Trị) và các trung đoàn tham chiến đồng bị tổn thất hơn 80% quân số. Điễn hình Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 95 từ khi vào cổ thành đến khi rút ra (kể từ ngày 13 tháng 7 đến ngày 10 tháng 9 năm 1972) chỉ còn đúng mười-hai người sống sót vượt sông Thạch Hãn tại làng Nhan Biều chạy về phía Bắc.

2- Tháng Tư sau năm 1975..

Cô giáo Thanh luôn có cảm giác, “Làm sao sống được tới ngày mai?” từ buổi chiều Ngày 30 Tháng Tư năm 1975 khi bế đứa con nhỏ, tay xách bịch ni-lông áo quần kinh hoàng rời khỏi khu gia binh Trại Sóng Thần của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Cô đã không thể phân biệt những hỗn loạn chung quanh đang ầm vang tiếng chưỡi mắng, nạt nộ chen lẫn tiếng súng xử bắn những người không kịp rời nhà theo lịnh của bộ đội cộng sản nói tiếng vùng Thanh-Nghệ-Tỉnh. Súng nổ không tiếng đạn bay ra vì đầu đạn đã ghim sâu vào thân con người ép dính sát đầu nòng súng. Địt mẹ chúng mầy là vợ con của bọn ngụy “trâu điên” (Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến lừng danh của quân đội cộng hòa).. Chúng ông không banh xác chúng mầy ra thì thôi chứ đừng hòng lấy được cái áo, cái quần, cái bát, đôi đũa.. Đồ đạt trong nhà nầy là do bọn chồng ngụy chúng mầy đã cướp đoạt của nhân dân mà có.. Cút!! Cút ra khỏi đây mau… Tên bộ đội miền Bắc túm đầu tóc cô đẩy ra cửa trong khi cô luống cuống ôm đứa bé và gói áo quần vừa nhặt nhạnh được.. Tuy nhiên cô cũng nhớ ra xác của hạ sĩ Lượm, người lính cùng đơn vị của chồng nằm chỏng chơ bên cạnh chiến xe lăn mà tên lính cộng sản vừa hất anh ta xuống để đoạt chiếm. Xác hạ sĩ Lượm chết không nhắm mắt chắc đang cố tìm hình ảnh của vợ con không biết vừa chạy đi đâu. Cô Thanh cũng không nhớ sau đó bằng cách nào, trong bao lâu cô đã bồng con về được ấp Suối Nghệ, Phước Tuy với cha mẹ.. Cô hồi tưởng một cách mơ hồ, đứt khúc đoạn đường từ Trại Sóng Thần cô đi lần ra chợ Thủ Đức, theo xa lộ đi về hướng Biên Hòa.. Tuy nhiên lại cô nhớ như in đoạn đường nầy vì khi đi ngang qua Nghĩa Trang Quân Đội, Thanh đã nhìn thấy rất rõ bức Tượng Tiếc Thương bị giật sập đỗ ngược xuống. Sở dĩ cô chú ý đến địa điểm nầy vì từ ba năm qua cô đã nhiều lần đến đây với hy vọng tìm ra được xác người chồng chết từ một ngày tháng 9 năm 1972 tại Quảng Trị. Cô giáo Thanh sở dĩ sống qua được bao năm cũng vì thằng Thành càng ngày càng giống người vắng mặt, và hơn thế nữa cô không hề nghĩ anh Tâm đã chết. Cô có cảm giác rất thật là người chồng chỉ vắng mặt đâu đó cho dầu đã bao lâu và cách bao xa. Nên cô vượt sống với, bởi nghĩa vụ tự đặt ra cho chính mình: Sẽ có một một ngày đi gặp chồng. Cũng quả thật cô cũng không cảm thấy đau khổ quá đổi nặng nề do lần vắng mặt lâu dài không tung tích của người chồng, vì cảnh sống từ ngày 30 tháng Tư năm 1975 kia đã tạo nên trong lòng cô phản ứng thường hằng: Coi như bản thân mình đã chết. Và cũng bởi người chết nào biết đến cường độ của cơn đau. Mỗi buổi sáng khi nhấn lưỡi cày sâu xuống mạch đất của thửa ruộng chạy dọc bên suối Sông Cầu dưới chân Núi Đất cô thường nhắm mắt lại trong khoảng khắc với lời nói ra tiếng: “Anh Tâm ơi, anh ở đâu, anh cầu cho mẹ con em.. Để sẽ có ngày em tìm ra anh nghe anh Tâm.” Rất nhiều lần khi nói lời than tội nghiệp nầy cô mong được tuông trào giòng nước mắt, nhưng điều cầu mong nầy cũng chỉ là mối ao ước không thành, bởi hình như lượng nước mắt đã cạn khô từ bao lâu. Dẫu Thanh luôn có cảm giác cay cay sâu trong mắt khi nhận ra thực tế cảnh sống của mỗi ngày, giờ đang trải qua. Thanh cũng không hề nghĩ ra rằng cô vừa qua tuổi hai mươi, và đã một thời là cô giáo đứng giữa đám con trẻ tập hát lời vui hòa sống động yêu thương. Tháng Tư một năm sau 1975 cô quyết đi tìm. Anh Tâm ơi, em đi gặp anh đây. Anh ở đâu cho em gặp anh. Cô lập đi lập lại cầu mong ngắn ngủi nầy chen trong chuỗi thầm thì tôn kính an ủi.. Kính mừng Maria đầy ân phước.. liên lũy lần hạt Mân Côi khi đã yên chỗ ngồi trong toa tầu chen chúc nhớp nháp của chuyến tàu lửa Bắc Nam. Lên từ ga Xuân Lộc trong buổi chiều váng vất nhá nhem tối chung quanh rừng Long Khánh loang tỏa khói mờ, chiều tối ngày hôm sau cô giáo Thanh đến ga Quảng Trị. Từ nhà ga, Thanh cảm thấy rờn rờn sự chết bao trùm lẫn khuất đâu đây khi nhìn lên khối gạch đá đổ nát nằm hỗn độn bên bờ sông cạn đáy mà người dân chỉ cho cô biết đấy là cổ thành Quảng Trị một thời trấn đóng trên sông Thạch Hãn. Anh Tâm ơi.. Anh ở đâu? Bất ngờ nước mắt cô chảy ra lúc nào không hay. Thật ra cô muốn gào lớn tiếng: Anh Tâm ơi, anh chết nơi đâu? Chữ “chết” mà bao lâu cô không hề nói ra. Không dám nghĩ đến.

Từ Huyện Cẩm Thủy chị Trịnh Thị Hàn bắt đầu cuộc hành trình theo Đường 119 đi về hướng Đông-Nam ra thị xã Thanh Hóa. Trước khi đi bà mẹ chồng đã có lời than: U không dám cản con, nhưng con nên nghĩ lại, từ đây ra tỉnh những mấy mươi cây số, con đi cũng mất một ngày.. Xong theo tàu hỏa vào Nam mà u biết tàu chỉ chạy đến Hà Tỉnh hoặc ra Hà Nội.. Cả đời con chưa đi quá Huyện Yên Định thì biết đâu đường đi vào Nam tìm thằng Hưu. Nhà ta quá nghèo nếu u đi theo chỉ làm con thêm bận bịu, tốn kém, vã lại u còn phải ở lại nhà để nom mấy sào ruộng, nhưng quả thật để con đi một mình u không yên tâm được.. Hay con đợi đến qua thu hoạch, nhà có dư đôi chút, u đi theo con luôn thể, nó là chồng con nhưng là con của u. Nhưng chị Hàn đã có lời cương quyết dứt khoát: U không phải lo cho con, đây là bổn phận riêng của con đối với anh ấy. Mấy năm trước trong chiến tranh chống Mỹ một mình con cũng đã hoàn tất được những công tác mà xã phải huy động đến cả cụm, cả tổ mới xong được. Con đã từng ứng chiến tổ phòng không suốt đêm, sáng ra đồng cày ruộng, chiều đi tập phòng thủ chống biệt kích đổ bộ.. Quần quật suốt cả mùa đông năm 1972 còn chịu được huống gì đoạn đường từ đây ra ngoài tỉnh, với đoạn xe hỏa vào Nam khi nước nhà đã hòa bình thống nhất. Cô vừa trả lời vừa đậy chiếc nắp ba-lô lên túi hồ sơ của anh Hưu có ghi địa chỉ đơn vị với nét chữ lớn viết bằng mực tím: 271003 TB 04. Thật ra chị muốn nói thêm với bà mẹ về lá thư của anh Hưu với nội dung mà chị đã thuộc lòng: “Vấn đề bồi dưỡng tại chiến trường lúc nầy đã tiến bộ, không còn thiếu thốn như thời gian di chuyển nữa..  Áp là thư em vào ngực, anh đọc đã mấy chục lần.. Có thể nói từ khi anh và em bắt tay xây dựng vợ chồng thì hai chủ nhật đầu tiên từ ngày anh ra đi là hai chủ nhật khó khăn và nặng nề khó vượt qua lắm. Trong những giờ phút đó anh muốn hét thật to để làm sao ôn lại cho em những lời nói của anh.. Anh đã  bước đi như một con người không có tri giác.. Em đã nằm giữa trái tim anh, dòng máu anh đã cùng chảy theo nhịp thở của em, cho nên dù ở phương trời nào em vẫn luôn có mặt với anh..” Lá thư viết từ một ngày đầu năm 1972 tại một nơi mà anh Hưu chỉ ghi tắt là QT và chị nhận được sau ngày giải phóng Quảng Trị trong tháng 4 năm 1973 cùng lần với giấy báo tử mà chị đã dấu kín không muốn cho bà mẹ hay. Và nay đã đến lúc chị phải đi tìm bởi lời nói của anh Hưu mà chị nghĩ là chân thành thắm thiết nhất: “.. Cho dù ở phương trời nào em vẫn luôn có mặt với anh” Phải, chị Hàn luôn có mặt với chồng cho dù đã bao lâu không thấy mặt, hay cách biệt bao xa kể cả từ, sau, bởi cái chết mà riêng chị âm thầm chịu đựng bao năm qua. Chị xốc ba-lô lên vai, cột túi cơm khô quanh bụng, cúi xuống rút chặt quai dép lốp, đội lên đầu chiếc nón cối cứng.. Xong, con đi đây! Con đi tìm chồng con, bộ đội Lê Văn Hưu. U ở nhà yên tâm. Chị Hàn bước ra khỏi nhà, xuống con dốc lần theo sông Mã đi ra đường 119 với cảm ứng: “Đi gặp mặt chồng”. Chị không hề có cảm giác anh Hưu đã chết dù tờ giấy báo tử kẹp chặt với lá thư ép trong túi ni-lông đeo trước ngực. Trước khi lên con lộ chính, Hàn băng qua khu ruộng ngô mà anh Hưu đã cuốc vỡ đất trước lần đi nghĩa vụ quân sự. Khu ruộng ngô mà chị và chồng  đã gieo những hạt giống của mùa đầu tiên, nơi hai người đã một thời vui đùa trong tuổi trẻ đã quá xa tưởng như một điều không thực. Tuy nhiên chị lại nhớ rất rõ những câu nói bâng quơ, cách trầm giọng làm ra vẻ quan trọng của anh Hưu, tiếng cười khúc khích của hai người giữa những luống lá dày xanh xám khi cây ngô lớn quá đầu người. Những sự việc tưởng như vừa xẩy ra, đang tiếp diễn khiến chị Hàn nhớ rõ mùi vị hạt ngô đầu mùa nướng lửa ngọn đốt từ đống lá vun trên đất. Mạch đất từng làm chứng tình yêu của hai người sáng nay trong nắng cuối xuân ươn ướt lớp sương mai gây trong lòng chị mối cảm xúc bất chợt đưa đẩy trí nhớ về lại hạnh phúc của một thời. Hoá ra hạnh phúc của hai người cũng mong manh và nhạt nhòa như lớp sương sớm đang khô dần trên đất dưới ánh nắng. Thật ra chị Hàn chưa đến tuổi ba-mươi.

Sau ba ngày với những chuyến tàu lửa chợ ngừng lại tại nhiều ga xép, những chuyến xe hàng chen chúc, ngột ngạt, kể cả những đoạn đường thăm thẳm lầm lũi cuốc bộ, cuối cùng chị Hàn bước lên chiếc cầu sắt đi vào thị xã Quảng Trị với cảm giác thản nhiên lạnh loẽ của người đã kiệt sức cùng đường. Cảm giác hiện thực khi chị hỏi đường đến văn phòng tỉnh đội và được người dân chỉ lên những khối gạch đá đứng chơ vơ bên bờ sông cạn đáy phơi bãi cát loang nắng.. Đó..đó..Cổ thành đó!! Và chị bật lên tiếng kêu không ngờ…Trời  đất ơi!! bởi đang biết rõ một điều: Anh Hưu chồng chị đã thật chết nơi những đống gạch đá tan vỡ nầy. Chị Hàn đi vào văn phòng Ban Quân Sự Tỉnh Quảng Trị với cách quyết liệt của người chấp nhận cái chết đang chực sẵn.. Các đồng chí có thể cho tôi biết mộ của các liệt sĩ trong vùng nầy bố trí ở đâu, và có thể cho xin biết danh sách bộ đội liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh năm 1972. Đây là giấy báo lần chồng tôi hy sinh, anh ấy là trung đội phó trinh sát thuộc Trung Đoàn 48B, sư 320B quân đội nhân dân. Viên thượng úy thường vụ tỉnh đội tiếp nhận tờ giấy, đọc qua với cách lơ đãng, xong đưa lại cho chị Hàn, trả lời với vẻ miễn cưỡng dẫu cố che dấu: “Tỉnh đội cũng như các đồng chí lãnh đạo trong ủy ban nhân dân tỉnh và nhân dân Quảng Trị đời đời nhớ ơn công lao của các anh hùng liệt sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và bộ đội nhân dân anh hùng đã giải phóng Quảng Trị thoát khỏi ách chiếm đóng của bọn Mỹ-Ngụy..” Nói đến đây, viên thượng úy khẻ liếc nhìn người đàn bà đang ngồi xỗm trên mặt đất theo dõi câu chuyện của chị Hàn. Viên thượng uý nói tiếp: “Nhưng, như chị đã thấy, bọn ngụy ác ôn sau khi rút khỏi Quảng Trị đã phá hủy tất cả nhà cửa dân chúng cũng như cơ sở của bộ đội cách mạng.. Bọn chúng cũng cố tình tiêu hủy tất cả hài cốt của chiến sĩ ta.. Nên.. nên.. sau giải phóng (ý nói sau năm 1975), chúng tôi chỉ tập trung được hài cốt của những chiến sĩ thuộc địa phương Quảng Trị mà thôi, còn những người đã hy sinh trong những trận đánh với bọn quân Ngụy năm 1972, 73 thì không cách nào để thu nhặt.. Chúng tôi chỉ còn cách là chôn tất cả vào một mộ tập thể và di dời ra ngoài La Vang.” Đến đây hình như viên thượng úy đã tìm ra được một cách thức giải quyết vấn đề khó khăm đang gặp phải, y xoay qua người đàn bà đang ngồi dưới đất nói với giọng hả hê: “Đó tôi có dấu diếm chị gì đâu, đến như liệt sĩ bộ đội nhân dân chúng tôi còn không tìm được ra dấu tích, hài cốt huống gì chồng chị là lính Mỹ-Ngụy “trâu điên” ác ôn..” Viên thượng úy cộng sản định nói thêm điều gì nữa nhưng đột nhiên im bặt vì người đàn bà, cô giáo Thanh đứng bật dậy rắn rỏi dứt khoát: “Chồng tôi không là lính “Mỹ-Ngụy” mà là lính Tiểu Đoàn 18 Thủy Quân Lục Chiến, nhưng không phải là Tiểu Đoàn 2 “Trâu Điên”.. Chồng tôi lại là người ở đây, ở làng Công Giáo Tri Bưu, họ hàng chồng tôi nếu còn sống sẽ làm chứng là bên chồng tôi và anh Tâm tôi chưa hề ác ôn với ai ở đây hết.. Cha chồng tôi là thầy giáo cả đời dạy học ở tỉnh Quảng Trị nầy.” Cô giáo Thanh cao giọng khẳng định thêm một lần: “Chồng tôi là lính Thủy Quân Lục Chiến không là lính Mỹ-Ngụy.” Quả thật Thanh cũng không ngờ phản ứng bất chợt mạnh mẽ của mình. Nỗi oan hận, uất hờn từ bao năm bùng lên như một tia lửa. Viên thượng úy bực tức luống cuống.. Vệ binh, vệ binh đâu đưa chị nầy ra ngoài xử lý!! Những tên lính trẻ ùa vào vây quanh cô giáo Thanh.. Khẩn trương! Khẩn trương.. Đi ra!.. Đi ra!.. Âm giọng miền Nghệ An sắc nhọn, dữ dội, đe dọa. Chị Hàn dẫu chưa thấu hiểu hết nguyên nhân, diễn tiến câu chuyện nhưng vội vàng can thiệp.. Các đồng chí, các đồng chí cho tôi nói chuyện với chị nầy. Chị Hàn mau chóng nắm tay cô Thanh dẫn vội ra cửa. Sau phản ứng mạnh mẽ của một lúc bất ngờ tất cả năng lượng trong người hầu như tan biến, Thanh nhu thuận, lặng lẽ đi theo chị Hàn với bước chân không chủ đích. Ra khỏi văn phòng tỉnh đội, hai người ngồi xuống lề đường, trên mô đất lồi lõm. Thanh úp mặt vào gối, nói trong tiếng nấc nén xuống.. Chị ơi em khổ quá! Em đến đây đã mấy ngày rồi.. Hỏi ai cũng không biết! Họ hàng bên chồng em chết hết.. Chết đâu từ năm 68, 72 bởi đạn cộng sản.. Em đi khắp nơi trong Quảng Trị nầy.. Không ai biết. Không ai thấy.. Chị Hàn nhìn lên trời. Nhìn lên những khối đá gọi là Cổ Thành Quảng Trị.. Trong một động tác bất chợt, chị ngồi sát gần người đàn bà bên cạnh đang úp mặt dấu tiếng khóc. Chị muốn kêu lên tiếng tuyệt vọng. Anh Hưu ơi! Anh Hưu ơi! Chị cũng mong được bật lên tiếng khóc.

Từ Thị Xã Quảng Trị theo chỉ dẫn của người dân, hai người đàn bà đi về hướng Hạnh Hoa Thôn, qua ngã ba Long Hưng theo Quốc Lộ I đến khu nhà thờ La Vang. Hai người tới trước khối nhà thờ đỗ nát khi chiều đã xuống bên sườn núi phía Tây. Gió se lạnh thổi rờn rợn u uẩn. Nơi nầy là gì hở em? Hàn trầm giọng hỏi cô Thanh do không khí chung quanh quá tịch mịch thê lương. Nhà Thờ La Vang nơi Đức Mẹ hiện xuống chị ạ. Hàn muốn hỏi về Người Mẹ mà cô Thanh vừa kể đến, nhưng dẫu không biết rõ người ấy là ai, chị vẫn cảm nhận hình như có một điều ấm áp bình an khi đi theo cô Thanh đến trước bức tượng hình dạng một người nữ có nét mặt buồn đau. Mẹ đấy chị. Mẹ cũng khổ đau như chị em mình. Mẹ Khổ Đau vìcon  người khổ đau. Cô Thanh quỳ trên đất, đầu cúi xuống ngực, thân hình bất động, im lặng sâu lắng thăm thẳm. Khi Thanh đứng dậy thì hình như đã là một người trút xong gánh nặng, cô thân mật nói cùng chị Hàn: Bây giờ mình không biết các anh ở đâu.. Anh của chị và anh của em. Chung quanh đây là mộ hoang chôn tập thể nhiều người.. Vậy chị một bên, em một bên, có bao nhiêu hương mình mình thắp cho kỳ hết.. Em biết, ngoài lính hai miền, nhiều người dân cũng đã chết khắp nơi đâu đây. Trong bóng chiều ngã vàng vùng đồi đá sỏi nhỏ màu đỏ như rây máu, bóng hai người đàn bà lướt thướt im lặng trên bụi lùm xao xác lay động dưới cơn gió cuối xuân thổi từ biển vào. Khi đã cắm hết hai bó nhang lớn, từ hai đầu cánh đồi đang khuất dần bóng nắng, cô Thanh và chị Hàn đi trở lại gặp nhau. Bóng hai người in đậm lên nền trời lặng lẽ như dạng hình tượng Đức Mẹ Sầu Bi. Khối tượng đã tồn tại như một nhiệm mầu sau bao đợt lửa đạn do pháo nặng, hỏa tiễn từ hai bờ Nam-Bắc sông Thạch Hãn bắn tập trung, từ biển khơi dội vào, từ máy bay trút xuống suốt năm 1972. Trên đất khổ La Vang chiều tháng 4 năm 1976 có hai người đàn bà tồn tại như một điều thường hằng sau cuộc chiến dài hơn trí nhớ theo cùng vận mệnh của một dân tộc lầm than.

Sau khi chia tay ở ga Quảng Trị, cô giáo Thanh và chị Hàn hứa với nhau sẽ trở lại trong mùa Lễ Thanh Minh năm tới. Dịp tìm kiếm và đắp điếm mồ người chết, cũng vào ngày  tháng Tư sụp vỡ miền Nam.

Phan Nhật Nam

Ngày trở thành Người Lính năm mươi năm trước

(23/11/1961-23/11/2011)