Những cơn mơ cuối năm

Truyện Trần Hoài Thư

Những ngày cuối năm, Đồng đã sống trong cơn mộng. Trời đã sang lạnh. Cái lạnh dịu dàng như ru anh vào giấc ngủ. Đôi mắt anh lim dim đằng sau ô lưới sắt. Anh như thấy lại một chút gì quen thuộc của quê anh. Tuy trời đã lập đông và những cơn gió giao mùa đã xôn xao những chiếc lá còn sót lại trên cành, nhưng anh cứ tưởng chừng là mùa thu. Miền núi miền Nam đã có một thời tiết khác xa miền Bắc.


Lần đầu tiên anh đã nhận ra sự khác biệt ấy từ khi anh theo bộ đội vào quê hương miền Nam. Anh đã dứng lặng rất lâu để ngắm những đám mây trắng chẳng khác những đám bông gòn lướt thướt bay trên bầu trời xanh nhạt. Trước mặt anh, hàng cổ thụ đầy bóng lá vươn cao trên con đường đất đỏ, và cứ sau một cơn gió lớn lại một trận mưa lá rụng xuống chẳng khác muôn ngàn cánh bướm.  Anh ngỡ chừng mùa thu cũ đang len vào từng mạch máu, sớ thịt của anh. Có phải anh đang ở trong một mùa đông miền Nam mà đang ôm trọn cả một mùa thu xứ Bắc ? Chưa bao giờ anh nhớ đến quê hương như thế. Ôi những cơn mơ. Chúng giúp anh bớt cô đơn, trong những ngày bị giam trong bốn bức tường. Những giấc mơ tội nghiệp mà anh phải tự trang điểm cho cuộc sống đáng thương.

Bây giờ anh đang đứng bên khung cửa sắt. Buổi sáng lại về chậm chạp và lười biếng. Chốc nữa khoảng 8 giờ, người quân cảnh sẽ vào mở lại cánh cửa để anh và người bạn tù được tự do ra ngoài sân bệnh xá. Chốc nữa, một người thương binh chánh phủ sẽ mang giúp anh một ổ bánh mì chả, một cốc cacao hay cà phê sữa. Chốc nữa anh sẽ gặp lại cô bé học nghề, mái tóc hớt ngắn, liếng thoắng, nhí nhảnh như con chim vành khuyên bên những dụng cụ và thuốc men để chăm sóc điều trị vết thương cho anh. Anh mỉm cười khi liên tưởng đến câu nói của cô bé như thường lệ:
– Rồi anh phải kể cho em nghe chuyện Hà Nội nhé…

Hà Nội. Hà Nội. Anh phải kể làm sao để nói lên cho hết về một thành phố yêu dấu. Anh phải nói làm sao để mang hết con tim Hà Nội, đôi mắt Hà Nội, vai vóc Hà Nội về một người con gái chưa bao giờ đặt chân đến một lần. Anh phải kể làm sao về những nỗi xúc động mà anh đã gặp trong buổi sáng mai này. Cô bé âý cứ đòi anh kể về Hà Nội của anh trong khi cô xức cồn, săn sóc vết thương cho anh. Nói làm sao cho vừa về một nơi với bao nhiêu kỷ niệm, về một nơi chốn mà hồn và xác anh đã được lớn lên và đã được nuôi dưỡng. Mỗi con đường, mỗi hàng xoan, mỗi hầm tránh bom Mỹ, mỗi vỉa hè, mỗi ngã tư, mỗi mái ngói đỏ, mỗi xưởng máy, mỗi ngày gian khổ… Cả nhịp đập của Hà Nội, cùng màu tang tóc trong những ngày Hà Nội báo động, những hầm công cộng chen chúc người. Hà Nội run rẩy trong những tràng nổ điên cuồng từ trên trời xuống mặt đất. Rồi tiếng rao phở u uất bên Hồ Gươm hay tiếng hát của đám thiếu nhi quàng khăn đỏ. Có thể là là một ngày Hà Nội mưa bụi. Có thể những trận lá bàng rơi đầy đường và những người có mặt từ sáng sớm tinh sương để hốt mang về đốt thêm bếp lửa gian khổ cơ cực…Tất cả như sống lại bão bùng chẳng khác một cơn bão triều, đồng thiếp.
– Đồng chí…
Tiếng gọi của người bạn tù làm anh sực tỉnh cơn mộng. Anh quay lại. Người bạn nói thêm:
– Lại nhớ Hà Nội phải không? Nhờ đồng chí mang hộ cái bình tiểu…
Anh chụp hai cây nạng gỗ, lê tới bình đựng nước tiểu. Anh nói vu vơ:
– Giờ này hắn vẫn chưa tới mở cửa.
– Mở cũng vậy mà không mở cũng vậy. Cần gì mà bận tâm đồng chí.
Phải. Mở cũng cũng vậy và không mở cũng vậy. Đối với những tên tù binh tàn phế như anh, còn gì để mà trốn trại, đào thoát. Nhưng bạn anh làm sao hiểu được con tim của anh lúc này. Cô bé ơi, chiếc răng khểnh, má lúm đồng tiền, trong bộ đồng phục trắng. Nhớ làm sao những ngón tay trắng cùng với chiếc kéo, hay miếng bông gòn xức thuốc đỏ. Nhớ làm sao câu thăm hỏi: Anh thấy hôm nay thế nào? như thường lệ.
Anh lại hỏi vu vơ:
– Hình như đêm hôm qua trời mưa phải không đồng chí ?
– Vâng. Mưa suốt đêm.

Anh đợi người bạn anh tiểu tiện xong rồi xách thùng để lại góc cũ. Sau đó anh lui cui làm vệ sinh phòng giam bằng chiếc chổi cùn. Rồi anh đến bên giường sắt, ngồi dựa lưng vào vách. Anh nhìn khúc thịt đùi bịt băng trắng. Nó là một chứng tích của những gì mà Đảng đòi hỏi. Nhưng những kẻ nhân danh Đảng thì đang bình yên ngoài Hà Nội. Họ chưa bao giờ hiểu thế nào là vết thương, là cái chân, cái tay cụt. Con cháu của họ thì ở hậu cần hay đi du học ở Liên Sô. Anh nhớ đến cái đêm kinh hoàng khi tổ anh lúc cả bọn tiến sát vào phòng tuyến ngụy. Tại sao anh lại còn được sống đến bây giờ. Tại sao anh lại không chết banh xác như hai người cùng tổ.  Anh đã quằn quại trong vũng máu bật tiếng rên rĩ giữa lúc quân ngụy xuống đồi lục soát. Anh nghe tiếng động của bước giày, tiếng nói miền Nam càng lúc càng rõ dần. Và anh chỉ còn việc nhắm mắt. Thỉnh thoảng những tràng súng lại nổi lên. Chắc họ bắn vào những chỗ nghi ngờ. Anh biết anh sắp chết. Nhưng ý tưởng sinh tồn đã bắt anh phải cố lết ra khỏi đám cỏ tranh. Anh chỉ dùng cả thân mình trườn và nhích đi từng gang. Cuối cùng máu từ vết thương lại tuôn ra xối xả. Anh kiệt lực. Hai chân hầu như không còn ở trên thân thể anh nữa. Cả hai tay cũng vậy. Chỉ còn ý nghĩ. Chỉ còn đôi tai và đôi mắt. Anh đang chờ đợi. Anh kêu nho nhỏ: “Thầy mẹ ơi, vĩnh biệt thầy mẹ”. Rồi anh lại thấy Hà Nội. Hà Nội với những con đường của tuổi thơ ấu, mà mùa thu, lá bàng, lá xoan thi nhau rụng đầy. Hà Nội với những ngày chớm thu, và những cơn gió heo mây lướt thướt. Hà Nội với những chiếc xe đạp nặng nề, với những tấm lưng như còm xuống nặng trĩu tai ương. Và Hà Nội có Liên tóc thắt bím, chiếc áo cũ bạc màu, đứng ở nhà ga Hàng Cỏ tiễn anh lên đường. Người con gái đã trao chiếc khăn tay cho anh giữa một công trường đầy cờ, quạt và lời tung hô. Bây giờ anh mới hiểu tại sao người ta lại nói Sinh Bắc tử Nam. Những người bạn đã bị bỏ lại trong cuộc vạn ly trường chinh. Những hố bom sâu thẩm dưới những khu rừng trụi lá. Những đơn vị bị xóa tên dưới trận bom trải thảm. Những người bạn anh chết vì kiệt sức hay bị vi trùng sốt rét tàn bạo. Nhưng ý tưởng diệt Mỹ cứu miền Nam đã làm mọi người vùng dậy, như ông cha anh đã từng diệt Tây như tổ tiên anh đã từng đuổi Tàu. Rồi thực tế của chiến trường. Những vùng đất trù phú của miền Nam biến thành những vùng đất chết. Rừng núi chìm ngập trong biển lửa u mê. Rồi trận đánh năm Mậu Thân hết đơn vị này đến đơn vị khác rã. Dân thì bỏ chạy khi đơn vị anh đến. Chính trị viên bảo lớp dân ấy là lớp dân còn mang mùi đế quốc, tư bản.
Nhưng  anh đã không chết như anh đã chờ đợi. “Tại sao khi đôi mắt ta nhắm nghiền, miệng thì rên rỉ bọn ngụy lại không bắn. Trái lại họ lại băng bó vết thương ta, mang ta về, mời ta một điếu thuốc. Tại sao ta nhổ nước miếng không thèm đụng tới đồ đế quốc, họ lại không tự ái, mà tiếp tục gọi máy xin máy bay lên thẳng đến tải thương.
“Tội nghiệp, thằng này còn trẻ quá. Có lẽ nó mới vào Nam. Hãy tiêm cho nó một mũi thuốc khoẻ” . Tên sĩ quan ngụy đã ra lệnh tên y tá.

oOo

Khúc phim của một đêm kinh hoàng đã chấm dứt khi tiếng mở khoá lách cách của tên quân cảnh. Một người thương binh ngụy đã mang đến phòng anh hai ổ bánh mì và một lon cacao. Hắn không quên tặng thêm hai điếu Bastos xanh. Đồng mỉm cười cám ơn. Chưa bao giờ anh yêu miền Nam đến như thế. Chưa bao giờ anh nhận ra số phận tuổi trẻ hai miền là đáng thương và tội nghiệp đến như thế.  Có ở trong quân y viện, người ta mới ý thức được thế nào là sự thật của cuộc chiến. Những vết thương rưng rức này anh mang cũng là những vết thương người lính hàng ngũ đối nghịch anh chịu đựng. Sự đau khổ này rõ ràng chỉ có thế hệ của anh chịu đựng mà thôi.

Vâng. Chính ở đây, anh đã tìm một sợi giây tương thân tương ái giữa anh và những người thù địch. Anh và họ đã có dịp ngồi chung trước bàn cờ tướng, hay chống nạng tán chuyện vu vơ. Ở họ là những con mắt bị đui, những tay chân bị cưa, những phần thân thể bị mất.  Nhưng trong tấm lòng họ là cả một biển thân ái. Họ đã mời anh từng điếu Pall Mall, Salem. Mặc. Anh chẳng cần bận tâm chúng là sản phẩm đế quốc. Anh chỉ biết một điều là qua màn khói thuốc là những con người xít lại gần với nhau hơn.

Cô bé học nghề  đã vào phòng tù binh như thường lệ. Đồng mỉm cười chào rồi trở lại giường nằm. Cô bé hỏi thật nhí nhảnh:
– Anh bớt đau không ?
Anh trả lời thật vui:
– Hết rồi cô.
– Như thế không bao lâu nữa là anh lành hẳn, anh phải rời khỏi đây.

Anh không đáp. Cô bé vừa tháo băng khỏi khúc đùi của anh vừa nói:
– Gớm, trời bắt đầu trở rét.
– Thế này mà rét hở cô ?
Rồi anh cười:
– Như thế cô làm sao sống ở miền Bắc được.
– Có phải Hà Nội lạnh lắm anh nhỉ ?
– Vâng. Những ngày cuối năm trời lạnh lắm.
– Anh Đồng ơi…
– Gì thế cô ?
– Anh có đọc văn của Nhất Linh chưa ? Hình như ông ta ở Hà Nội phải không?
– Vâng. Ông ta ở Hà Nội, nhưng ông đã di cư vào Nam. Người ta xem ông là phản động.
– Nhất Linh chết rồi anh biết không ?
– Có lẽ ông ta già ?
– Không. Ông tự tử bằng thuốc ngủ.
– Thế ư.
– Em thích câu chuyện Nhặt Lá Bàng của ông. Có phải ở Hà Nội, trời cuối năm thật lạnh và thật nhiều lá bàng rụng phải không anh ?
– Vâng. Và có nhiều người nghèo khổ cứ mong chờ gió nổi lên rồi xách giỏ đi nhặt lá bàng để về đốt sưởi lạnh…
Rồi Đồng hỏi:
– Cô thích Hà Nội lắm sao?
– Bởi vì Hà Nội là quê hương của em. Ngày em rời nó, em còn quá nhỏ để không nhớ một cái gì cả ! Bố mẹ em cứ mong về lại miền Bắc. Còn em thì mong được thấy một Hà Nội của Nhất Linh. Còn anh, anh mong về không? Em nghe người ta sắp trả những tù binh tàn phế về Bắc. Anh chắc sẽ được về Bắc…
Cô bé vừa nói vừa làm việc. Đồng để ý đến những ngón tay thon thon  đang cầm chiếc kéo cắt miếng bông gòn, hay nhanh nhẹn quấn băng lên khúc đùi của anh. Anh nhớ đến em gái của anh. Chắc giờ này nó cũng đang có mặt ở miền Nam. Không ai thoát được những móng vuốt của bầy diều hâu. Người lớn, con nít, người già người trẻ, nam hay nữ. Rồi anh muốn ứa nước mắt. Tại sao cô bé lại nhắc đến một Hà Nội mà anh muốn quên.
– Anh đang nhớ Hà Nội phải không ?
Anh lúng túng, ngượng nghịu, không trả lời.
– Em mong sao một ngày hòa bình, em sẽ ra đó. Khi ấy, em sẽ nhờ anh chỉ đường.
– Vâng, tôi sẳn sàng…
Rồi anh hỏi:
– Hình như cô vào quân y viện để học nghề phải không ?
– Sao anh biết ?
– Tôi nghe những bạn bên trại kia bảo vậy.
– Vâng. Em học ở đây đã gần một năm. Hết một năm, họ sẽ cấp một chứng chỉ.
– Cô làm ở đây có lương không ?
– Không có anh. Em đi học mà.
– Tội nghiệp nhỉ. Thấy cô làm gian khổ quá.
– Nhưng em rất hạnh phúc được giúp đỡ một phần nào những người bất hạnh.
– Cô không căm thù chúng tôi chứ ?
– Các anh làm gì mà em phải ghét. Ở đây ai cũng đáng thương cũng tội nghiệp.
Bỗng cô gái như nhớ ra một điều gì. Cô nói:
– Anh chờ em một tí nhé.
Rồi cô bé bỏ việc, chạy ra khỏi phòng. Một lát cô bé mang vào một gói bọc giấy nhật trình:
– Quà Tết của em đây. Em xin gởi anh.
Rồi nàng liếng thoắng mở gói giấy:
– Này là bánh cốm, này hạt dưa, này mứt gừng. Em mời anh.
Đồng nắm lấy bàn tay cô bé. Anh nói nghẹn ngào:
– Cám ơn cô. Tại sao cô lại tặng tôi.
– Vì anh không có ai. Anh ăn bánh cốm thử xem. Bánh cốm miền Bắc đấy.

oOo

Bánh cốm của miền Bắc đấy. Nga ơi con chim họa mi của tôi ơi. Cám ơn em đã giúp tôi tìm được ý nghĩa của cuộc sống. Những người bạn thương binh ngụy ơi. Cám ơn các bạn đã giúp tôi hiểu rõ về tình người. Chỉ có chủ nghĩa, ngoại bang mới là những tay đồ tể. Chúng đẩy chúng ta vào con đường thù hận phi lý. Anh Hạo, tôi không trách anh đâu, mặc dù tôi biết đêm hôm ấy, chính anh và đồng đội anh bắn vào chúng tôi, tung những quả lựu đạn vào vị trí chúng tôi. Bởi vì cuối cùng, tay anh bị cưa và chân tôi bị mất. Chúng ta chỉ là nạn nhân không hơn không kém.

… Ngày hôm nay, Hạo lại mang đến cho tôi một bao thuốc Pall Mall. Anh nói là quà tặng trong dịp lãnh lương. Tôi cám ơn anh mà nước mắt muốn chảy. Sau đó chúng tôi cùng rủ nhau ra ngoài quán câu lạc bộ, đánh cờ tướng. Mấy người thương binh khác ngồi vây quanh bàn, góp lời góp ý. Có một người đứng về phía tôi. Anh ta là một tay chơi cờ thượng thặng. Anh cứu dùm tôi những thế mà tôi không thể ngờ.
Rõ ràng, tôi biết, cuối cùng, trong con tim mỗi người vẫn còn có một chỗ đậu gần gũi.  

Tôi đã bắt đầu viết nhật ký sau một tháng quằn quại cùng cơn đau đớn. Tôi vừa xin Hạo một xấp giấy trắng và một cây bút nguyên tử. Tôi tập trở lại cùng những ngày lãng mạng cũ. Người con gái nào đến với tôi như một cơn gió khiến tôi cứ nhung nhớ vu vơ. Nàng như một cánh chim của miền Nam mang lại tiếng hót vào nơi tù ngục tăm tối này.
Ngày cuối năm, giờ này thầy mẹ đang làm gì. Hay là thầy mẹ đang nhớ đến đứa con sinh Bắc tử Nam. Làm sao thầy mẹ biết con đang ở trong trại tù binh, bên hai chiếc nạng gỗ để nhìn cái chân tàn phế của con.

Sáng nay, Nga không đến như thường lệ nữa. Hình như cô bé đã nghỉ việc. Tự nhiên lại buồn. Hay là tôi đã yêu con chim nhỏ bé. Hay là tôi đã bắt gặp những gì yêu dấu của tuổi thanh xuân qua hình bóng dễ thương và nhí nhảnh ấy. Và lòng tôi bây giờ chẳng khác một biển sầu. Tôi đã không còn cơ hội để kể về một Hà Nội của tôi nữa. Tôi nhớ lại những ngón tay trắng nuột đang tháo dần miếng vãi băng khỏi khúc đùi của tôi. Tôi nghe lại những lời nhí nhảnh của cô bé như chim sáo. Tôi đang nhai miếng bánh cốm miền Bắc mà lòng rưng rưng. Nga ơi, bây giờ là cuối năm miền Nam mà như mùa thu ngoài Bắc, không có em làm sao tôi có thể mang thành phố mà đêm đêm lá bàng của Nhất Linh rụng đầy để hong sưởi lòng tôi bên này ô lưới sắt ?

(Tạp chí Trình bày, năm ?)