CUỐI BỜ XA CÁCH

Truyện viết trong thời chiến của Trần Hoài Thư
(trích Văn Học số 193 năm 1974)

Cho tới bây giờ, tôi mới thấy rằng tôi là một tên bất nhân nhất thế gian. Một tên vô tâm độc ác. Không, anh đừng vội ngạc nhiên. Cũng đừng thắc mắc tại sao tôi lại tự sỉ vả tôi như thế. Cho dù từ trước tới nay, tôi chưa dám giết một côn trùng, sợ máu như sợ một thứ gì ghê gớm. Hãy bình tâm, cho tôi thú tội. Dù sao đi nữa, anh là kể đến với tôi chiều nay, buồn cùng nỗi buồn to lớn của tôi, thương hại cùng nỗi cô đơn khủng khiếp của tôi. Anh hãy để tôi được quyền coi anh là một vị linh mục, và tôi sẽ quì xuống để nói ra những gì đã dần mòn cắn rứt con tim tôi suốt mấy năm trời. Tôi đang bị cái hình phạt khủng khiếp ấy bủa xuống, như một ám ảnh tàn khốc nhất của kiếp người. Càng lúc càng độc hại. Ừ trước khi thổ lộ, xin mời anh uống thêm một cốc rượu nữa. Và cho phép tôi cùng nâng ly. Tâm hồn tôi yếu đuối lắm. Nếu không có chất men độc địa này, chắc tôi không đủ can đảm thú tội đâu. Tôi xin anh hiểu mà thương tôi…À, anh thấy gì không? Mua thu đang trở về. Trời ngập gió heo may. Đường ngập lá vàng. Mặt trời màu tái xanh bệnh hoạn . Cảnh trời cũng lây cả một màu bệnh hoạn, đến tận đáy lòng mình. Cây ngô đồng đã đổi màu xanh thành vàng chết, và kìa, lá vàng từng trận rơi xuống như chia buồn cũng cõi thế…

Continue reading “CUỐI BỜ XA CÁCH”

Advertisements

MẮT ĐÊM

truyện thởi chiến của Trần Hoài Thư
(trích Văn số 121 ngày 1-1-1969)

Khi tổ tiền sát viên chạy đến gần chiếc cầu gỗ, ẩn dưới bờ mương, tôi bắt đầu cho tổ của trung sĩ Y Bok tiếp tục tiến chiếm gò mả để yểm trợ cho tổ đi sau. Bên kia chiếc cầu gỗ, xóm nhà xác xơ. Vài ngôi nhà ngói bị đổ nát, còn lại những đống gạch vụn, dưới ánh nắng chói chang. Đại-bàng ra lệnh trong máy C.25,  hãy dặn các con anh coi chừng, có mãng cầu nhiều lắm đó. Tôi ngoắc tay, ra hiệu người trung đội phó, làm một thủ lệnh sẵn sàng qua cầu. Đằng sau, trung đội 1 cũng bắt đầu tiến lên trên đám ruộng phía trái. Một chiếc L.19 đang bay đảo vòng trong bầu trời xanh lơ. Một trái khói trắng bốc lên cách gần tôi một trăm thước. Đó là quả đạn hiệu chỉnh của pháo binh. Tiếp đến là những quả dạn nổ long trời. Bụi cát bốc lên mù mịt. Đó là những quả đạn bắn hiệu quả. Tôi áp người vào bờ mương, nghe thân thể rung động. Toán lính nằm dọc theo bờ, súng chĩa về ngôi làng. Tôi bặm môi, ra hiệu thằng mang máy đến gần , và báo cáo: Phú Sơn, đây Phú Sơn ba nghe không trả lời. Tôi báo cáo cho anh trình lại thẩm quyền, các con tôi sắp vượt qua cầu. Trình Đại bàng cho yểm trở. Nghe rõ trả lời. Bàn tay buông lỏng. Tiếng rè rè từ ống liên hợp cất lên: Tôi nghe năm trên năm. Bây giờ những quả đạn pháo binh nổ dồn dập. Những cột khói đen cuồn cuộn, quyện với hơi nóng rát mặt tỏa lên. Tôi được Đại-bàng bảo hãy chờ. Cho pháo binh cầy nát mục tiêu đã. Rồi mình qua. Tôi đáp, nghe năm trên măng, rồi nằm ngửa, súng đặt trên đùi. Tay lấy chiếc khăn, chiếc khăn màu lam mà Quỳnh đã gởi cho tôi trong lần chia ly cuối cùng, đẫm nước mắt, lau vội mặt kính nhem nhuốc nước bùn, tôi nghe nỗi kích thích lạ kỳ, tràn ngập trong từng tế bào, trong huyết quản. Thân thể bị lay động dưới sức nổ của đạn trái phá. Tôi xoay người lại, đặt đầu ống liên hợp vào tai lắng nghe những mẩu âm thoại dồn dập trong máy. Nắng đã bắt đầu lên, và cánh đồng trải dài nhảy múa trước mắt.

Bây giờ, Đại-bàng ra lệnh: Hãy qua cầu. Đứa con 2, yểm trở cho anh. Tôi đứng, hét: Tổ tiền sát viên, qua ngôi làng, chiếm ngôi nhà trước mặt. Tiến. Hạ sĩ I Ký cầm cây M.16, qua cầu, chạy như bay đến sau đống gạch vụn. Những người lính còn lại tiếp tục chạy qua cầu, yên ổn. Tôi thở dài nhẹ nhõm. Tôi không ngờ tình hình lại yên ổn như thế. Khi nãy, trung đội tôi còn ở trong ngôi vườn cách ngôi làng một cánh đồng đất bùn, chúng tôi đã phải nổ súng dữ dội khi thấy những người bà ba đen chạy vụt qua. Binh I Mễ hét lên: Bọn nó chạy đó, thiếu úy. Tiếp sau, những tràng nổ liên thanh chát chúa vang lên, kèm với những quả đạn M.79. Tôi hét lên: Ai cho lệnh bọn mày bắn, hả? Tiếng Đại-bang từ trong ống liên hợp ra lệnh thôi bắn, thôi bắn. Tôi bực dọc đá một thằng lính ngồi bên cạnh, say sưa nhả đạn. Ai cho mày bắn, hả? Mày lỡ bắn vào  dân thì sao? Nó phân trần, bực dọc: Em thấy bọn nó mặc bà ba đen, chạy vụt qua mà. Tôi hét: Ai cho mày bắn? Đại-bàng la tùm lum, mày vác tai mà nghe! Binh Nay nói: Ở đây là V.C. hết. Thiếu úy không thấy ca-nông nhả, sao. Tôi không trả lời, rảo về phía tổ trung sĩ Y Đao, bố trí phía trái. Những nhánh hoa giấy đỏ thắm bò qua những sườn nhà trơ nóc, lung lay trong gió. Bầu trời thật xanh. Tôi ngồi xuống, và cảm thấy ngứa ở các ngón chân. Các ngón chân cọ quậy trong đôi tất ướt nước bùn. Tôi nghĩ đến câu nói của binh Nay. Có lý, có lý.

Làm sao lại có những người dân vô tội, ở tại cái vùng nơi trong bản đồ được đánh chữ thập bằng bút chì mỡ màu đỏ, xác định mục tiêu nặng nhất.

“ Tin tình báo xác nhận vào khoảng một đại đội có vũ khí cộng đồng xuất hiện vào đêm… tại ấp V.Q. Chúng sẽ dưỡng quân tại đấy, đồng thời sửa soạn cho một cuộc tấn công mới vào các vùng của ta.

Lệnh hành quân vắn tắt như vậy. Tôi nói thầm: Có lý, có lý.

Chúng tôi vào đầu làng yên ổn. Tôi cảm thấy một nỗi sợ hãi bao vây, như những cánh tay vô hình cầm con dao sẵn sàng vuốt ve da thịt. Những bước chân giẫm trên đống gạch vụn, âm vang khô và nặng nề. Có tiếng xầm xì của một người lính Thượng, khi hắn đưa chiếc mũi trong không khí, đón nhận một hương vị nào đó. Thiếu úy, có cứt còn mới. Nhiều lắm. Tôi nói đâu đâu. Hắn chỉ tay vào cuối nền nhà, cạnh bờ sông , Tôi nói với người trung đội phó. Ở đây còn nhiều người lắm, trung sĩ. Bảo anh em nằm xung quanh, tìm vị trí ẩn núp. Đợi lệnh tôi. Tay phải với ống liên hợp, tôi quì xuống bằng đầu gối phải: Phú sơn đây. Phú-sơn 3, nghe không trả lời. Ở đây có người nhiều lắm. các con tôi vừa tìm ra một hầm cứt mới. Nghe không trả lời. Đại-bàng bảo cứ nằm yên, các con của Hai, sẽ qua cầu bây giờ. Tôi đưa thủ hiệu nằm xuống. Một tiếng động thật nhanh và khô kèm theo một âm thanh đổ. Tôi chụp khẩu súng, đặt hướng vào nơi khả nghi. Một con heo nái, những chiếc vú dài lê trên mặt đất, xuất hiện từ một bụi lau. Hạ sĩ Y Wang vừa chỉ tay vừa xầm xì. Tôi mỉm cười.

Binh Hà vừa tìm ra một thùng đạn K.50 giấu trong sàn bếp. Tôi bắt đầu cho các tổ lục soát và bố trí ra hướng bờ sông. Đằng là bãi cát trắng, những khóm lau đen nổi lên trên mặt nước yên tĩnh. Xa hơn nữa, dãy núi Bà Đen, hình dáng nặng nề, đen thẫm. Tôi mở bi-đông lấy một tí nước vỗ vào trán và quệt trên hai con mắt. Cái kính đã bị bụi làm cho nhem nhuốc. Nước mát lạnh. Tôi cởi hàng cúc áo, để hứng những làn gió từ bên bờ sông. Những người lính đang tiếp tục lục soát. Nắng làm những chiếc cổ màu đen của những người lính Thượng ri rỉ mồ hôi. Trung đội Hai đã vào và lục soát những khóm nhà dọc theo con đường làng. Trung đội Một, chận đường ở cầu, nằm bên bờ mương. Đại-bàng dặn trong máy dặn các đứa con coi chừng lựu đạn gài. Đứa con Hai đã tìm ra một trái ở cửa hông. Tôi nói, nghe năm trên năm. Phút chốc, tôi thấy những cuộn khói bốc lên và đám lửa hừng hực đỏ từ một căn nhà tranh ven đường. Các con của trung Hai đã đốt vì không dám gỡ lựu đạn. Có tiếng nổ long lở tiếp theo. Tôi mệt nhọc dựa lưng vào bờ vách, khẽ nhắm mắt. Nỗi mệt nhọc rã rời chạy dài trên khắp thân thể. Đôi chân duỗi ra, cố gắng ngồi một dáng thoải mái; tôi lấy bi-đông uống một hớp nước. Thằng mang máy ngồi bên cạnh, tiếp tục nghe và trả lời. Tiếng rè rè từ ống liên hợp đều đều. Vô sự. Phú-sơn đây Phú-sơn Ba trả lời. Gia đình tôi vô sự. Hả. Anh bắt được một đứa hả? Nó trốn trong dịp bọn nó tổng công kích vào dịp Tết, hả? Tôi nghe từng lời đối thoại. Chẳng có gì để nói nữa. Đằng sau nhà, có tiếng hét của người lính: Lên không. Đầu hàng đi. Tao ném lựu đạn xuống bây giờ. Tôi đứng dậy, tiến về tiếng hét. Thằng Trung cầm trái M.26, sắp bỏ vào miệng rút chốt. Tôi gọi giựt: Khoan đã. Muốn chết hả? Trung nói: Thiếu úy, em nghe tiếng động trong hầm, bọn nó núp trong hầm, thiếu úy. Tôi nạt: Mày tưởng bắt bọn nó dễ dàng như vậy sao? Trung cầm trái lựu đạn, phân bua: Thì ở đây là bọn nó rồi còn gì. Tôi nói: Lỡ dưới hầm toàn dân không thì sao? Tôi chỉ tay vào trái lựu đạn cay, sao  mày không dùng thứ này? Ai dạy mày, hả.

Tôi nằm trên miệng hầm, sát tai vào lớp đất. Có tiếng rục rịch khe khẽ. Tôi bảo Trung và cả tổ nằm chĩa súng xung quanh miệng. Tôi hét. Đồng bào ở dưới thì lên, bọn tôi tới giải phóng đồng bào. Đồng bào không lên, chết chịu. Tôi đếm từ một đến mười…

Tôi đếm một, hai, ba, bốn, năm. Đồng bào lên không. Trái lựu đạn cay của Trung được đưa ra, và miệng nó sắp rút chốt, thì người đàn bà hiện lên trong khoảng tranh mờ tối của cửa hầm. Mụ ta có bầu, trạc độ 39, 40 tuổi. Mụ vừa trồi đầu lên vừa chắp tay lạy: Lạy các ông, chúng con vô tội. Binh Hai hét: Còn bao nhiêu người ở dưới đó? Mụ rên rỉ: Dạ còn chừng bảy, tám người. Gia đình con cả. Tiếp đến một lũ người trồi đầu lên. Đi đầu là hai ông già, mấy người đàn bà, một đứa con gái còn nhỏ và mấy đứa con nít. Họ mang theo những chiếc va-li thiếc, những thúng đồ hoặc những túi vải bố. Tôi bảo lính dồn đám người về một góc. Nắng chói lòa trên nền nhà đổ vụn và những mảnh chai phản chiếu một màu nhức nhối. Tôi cảm thấy khó chịu, khi những giọt mồ hôi bắt đầu ri rỉ xuống cổ. Mụ đàn bà cứ réo: Lạy các ông, các ông tha con. Binh nhất Hai lên đạn rắc rắc. Mụ nói các quan ơi tôi vô tội. Binh Hai vội đá cái va-li thiếc bay đi một khoảng và nói: Sao mụ có bầu. Chồng mụ ở đâu rồi. Mụ đàn bà vội nói: Chồng tôi, ảnh làm lính Quân-cụ ở Qui-nhơn. Tôi cười. Bao giờ cũng vậy, mỗi lần hành quân qua mỗi ngôi làng mất an ninh, chỉ thấy đàn bà, trẻ con và ông già bà lão. Đàn bà phần nhiều có chửa. Và một điều lạ, hỏi chồng bà ở đâu, chúng tôi chỉ nghe ảnh đi lính Quân-cụ, Quân-nhu, hay nằm bệnh viện. Lần này mụ đàn bà cũng nói như vậy. Tôi bảo lính lấy dao găm cạy va-li thiếc, lục soát. Nắp va li được mở tung. Có một bộ ka-ki vàng. Binh Hai hét: Chồng mụ đi lính Quân-cụ hay đi giải phóng. Nói mau. Hắn sắp bạt tai, thì tôi vội ngăn lại. Tôi không thể chịu nổi những gương mặt thảm thê, những đôi mắt ngơ ngác sợ sệt đó. Mụ đàn bà nhìn tôi van lơn. Hai ông già tiếp tục nhìn ra cánh đồng chói nắng. Những người khác nhìn xuống đất. Tôi quay mặt lại. Binh Hai vẫn tiếp tục điều tra, dọa dẫm. Nắng đã làm nhức mắt. Tôi muốn nhắm mắt lại, ngủ một giấc, một giấc thôi. Mẹ tôi ở đó, những đêm ôm chặt tôi trốn dưới gầm giường. Đạn réo ngoài sân, ngoài ngõ, ngoài hiên. Đạn réo trên đầu, trên mùng, Mẹ tôi ở đó, trên sân nắng, hai tay để lên đầu, khóc lóc nhìn bọn lính Tây tra hỏi. Vẫn những giọt nước mắt, vẫn những tiếng khóc lóc, như một âm vang từ xa xôi vọng lại, từ một quê hương, một xóm làng đìu hiu. Tôi chống hai tay vào đầu gối, mệt nhọc đứng dậy. Tôi nói: Thôi, để yên đó. Mùi thối từ ngôi nhà gạch bên cạnh bốc lên, đến buồn nôn. Có lẽ là một xác sinh vật nào đó. Những quả cà-nông vẫn tiếp tục dội về, như một cung  đàn buồn thảm. Chiếc L.19 vẫn rà rà trên đầu. Tôi đi về phía nhà sau. Toán lính đang lục soát trong nhà bếp. Một hũ ruốc. Cả bọn la lên. Một người lính Thượng, đút tay vào hũ, và bỏ vào miệng, la: Ngon. Ngon. Những thùng lúa bị đổ, thóc rơi xuống nền, ngập tràn. Trên chiếc bếp, những lư nhang bị đổ gãy, nằm ngổn ngang. Tôi dặn tổ trưởng hãy cẩn thận, coi chừng tụi nó cài lựu đạn. Trung sĩ tổ trưởng đáp dạ, rồi hỏi chừng nào rút, thiếu úy. Tôi nói: Chắc chiều. Tôi trở ra hàng hiên. Binh Hai vẫn tiếp tục hét. Mặt hắn đỏ gay. Hắn đã bất lực trước đám người khốn  nạn. Một cô bé trạc mười ba, mười bốn tuổi đang ngồi mặt cúi xuống. Binh Hai nói với tôi: xem chừng con nhỏ đi, mình dọa được, thiếu úy. Tôi ngước nhìn. Dáng dấp gầy yếu, màu da đen ngăm, đôi mắt mở lớn ráo hoảnh, ẩn bên trong nỗi sợ hãi tột cùng. Binh Hai cầm con dao, đưa lưỡi vào cổ con bé, hét: Mày chỉ mấy người đàn ông vừa chạy, ở đâu? Không nói tao giết. Con bé run run. Dạ con không biết. Binh Hai vội đá một đá vào mông con bé. Tôi tự thấy đắng ở cổ. Hai tay buông thõng, tôi nhìn những con kiến đang bò bên bờ thành. Một hàng li ti, chấm chấm đen. Bọn này bò, biết bao giờ thấy mỏi. Gió ngoài sông mang theo mùi thối từ căn nhà bên cạnh. Mặt trời chói lòa giữa bầu trời xanh lơ. Tôi đứng dậy, khổ sở, hét: Tại sao đồng bào lại ở đây, hả? Đồng bào không biết đêm ngày cà-nông, máy bay thả bom. Đồng bào lại chịu khổ cực như vậy hả?

Ông già được dịp phân trần: Dạ, tại vì nghèo quá. Bọn tôi nhờ chút lúa, chút gạo. Đi rồi lấy gì mà sống.

Tôi nói: Đồng bào phải quí trọng tính mạng của dồng bào.

*

Đến bốn giờ chiều, chúng tôi được lệnh mang số dân cư ngụ tại đây về vùng có an ninh. Trung đội tôi bọc chót. Tôi phải khổ tâm mới bảo họ lên đường. Những thúng gạo, nồi niêu, những bát chén, kèm theo những tiếng khóc nức nở. Tôi nghĩ đến một quê hương đã mất. Tôi phải bảo tính thúc từng người. Hình như không có người nào muốn đi. Cuối cùng đoàn người lục tục lên đường. Viên cố vấn Mỹ đi theo đại đội,  đếm từng đầu người, rồi ghi trên sổ tay. Đồng ruộng trải dài, thỉnh thoảng vài hố bom cày, loang loáng nước. Đoàn người chậm chạp đi qua những con ruộng đất bùn. Hai bà già chống gậy run run mò mẫm, đi được một đoạn, vội nằm lăn trên đất, khóc lóc: Bọn mày đi đi, tao ở lại. Tao chết cũng còn thấy nhà tao, thấy cha mẹ tao, ông bà tao. Tao không sợ chết. Tao già rồi. Người đàn bà mặc áo màu nâu xanh, đến bên cạnh, ôm chân bà lão, khóc lóc. Má không đi, con cũng không đi. Tôi phải bảo lính dừng lại. Làm sao tôi khuyên họ. Chiếc L.19 vẫn bay rà rà trên đầu. Đại-bàng cứ gọi trong máy C.25, bảo: Hãy đưa họ về mau. Trời sắp tối rồi. Viên trung đội phó càu nhàu: Kệ họ, thiếu úy. Mình đi về muộn bọn nó phục kích thì chết. Tôi nói trong ống liên hợp: Xin Đại-bàng chờ. Tôi nói mãi, họ cũng không chịu đi. Nhứt là mấy  bà lão. Tôi bỏ máy, đến bên người đàn bà, nói: Cổ nói với bả, rán đi. Bọn tôi giúp giùm cho. Nhưng bà già vẫn nằm lăn trên đất, tiếp tục gào: Tao không đi, tao không sợ chết. Tôi thẫn thờ nhìn về đằng trước, những người lính của trung đội 2 đã mờ khuất sau đám tre của ngôi làng T.H. Trời đã về chiều. Nắng đang hấp hối trên những hố bom loang loáng nước. Đại-bàng bảo trong máy: Hãy tìm tất cả mọi phương tiện, đưa họ về. Tôi lắc đầu: Tôi chịu, đại úy.

Cuối cùng, đoàn người được đưa về làng ven lộ yên ổn. Có ba, bốn người ở lại. Tôi khổ sở nhìn đám người chậm chạp, cử động trong màu sắc nhá nhem. Đại-bàng bảo nhiệm vụ của mình đến đây đã hết. Sơn-tây cho mấy đứa con sẵn sàng ra lộ, chờ lên con cua. Tôi đứng trên thềm một ngôi nhà gạch, nói lớn: Bây giờ đồng bào có thể yên tâm ở lại. Đây là vùng an ninh, có lính quận bảo vệ. Đồng bào được tự quyền đi lại. Đồng bào có thể về thành phố. Chúng tôi cám ơn đồng bào.

Một ông già chợt giơ tay, nói:

–        Bẩm quan, quan đưa chúng tôi về rồi quan bỏ chúng tôi lại đây, chết đói. Chúng tôi ra đi không mang theo một đồng bạc. Chính phủ không lo cho chúng tôi. Làm sao chúng tôi có cơm gạo mà ăn.

Tôi nói:

–        Đồng bào cứ yên tâm. Chánh phủ sẽ lo lắng sẽ cho nhà đồng bào ở, sẽ cung cấp gạo cơm cho đồng bào sinh sống.

Tôi nghe tiếng xầm xì trong đám đông. Trong máy, Đại-bàng giục sửa soạn xulu, cứ để cho tiểu khu lo sao thì lo. Tôi thấy những con mắt ngơ ngác nhìn quanh. Một đôi vợ chồng già đang tìm một góc thềm của căn nhà hoang, trải tàu dừa khô xuống. Đứa bé gái đang đứng, ủ rũ bên cây đa. Chẳng biết, mấy quan lớn có lo lắng để đưa đám dân khốn khổ này về trại lánh cư không. Tôi mệt nhọc, gọi trung đội phó, dặn bắt đầu kiểm soát rồi xulu. Trời đã chạng vạng. Một đàn cò bay ngang. Người Mỹ cố vấn đại đội cười nói với tôi: Sao họ can đảm vậy. Họ ở những nơi mà tôi không ngờ đến. Tôi buồn buồn nói: Ở Việt-nam, dân tôi sống khốn khổ như vậy. Nhưng họ cần cù, nhẫn nại. Họ quí mảnh đất ao vườn hơn chính bản thân của họ…

Trái với lệnh hành quân, các con cua sẽ đón chúng tôi trở về đại đội vào buổi chiều, nhưng đến giờ phút chót, chúng tôi được lệnh đóng quân đêm tại làng T.H. Đại-bàng chọn trụ sở ấp làm bộ chỉ huy. Đến 7 gay go, các toán kích bắt đầu đến mục tiêu. Tôi dặn trung sĩ Hoàng, nếu đụng, cứ bắn ba phát súng báo hiệu rồi chạy về. Tổ kích được chỉ định gồm những cậu lính tân binh. Tôi hơi e ngại, nhưng nghĩ rằng đã là lính, thì phải biết mùi. Tôi dắt trung đội lởn vởn khu vực kích, định đến đêm rút về để tổ trung sĩ Hoàng nằm lại. Trên đường di chuyển, chúng tôi gặp một ông già, mặc bà ba đen, chân đi đất, đi xe đạp. Tôi bảo lính bắt dừng lại để hỏi vài điều cần thiết. Nhưng lão già vẫn đạp xe. Thằng Hà vội lên đạn rắp rắp, quát: Ông đi, tôi bắn. Lão già ngừng xe. Tôi bảo binh Lợi hỏi giấy tờ, và lục soát thật kỹ. Dáng dấp lão thật khả nghi. Binh Lợi hỏi giấy tờ, lão đưa đủ giấy tờ. Nhưng khi đòi lục cả bóp, lão nằng nặc không chịu. Tôi nói, tiền bạc ông có bao nhiêu hãy cất, còn bóp đưa tôi ( tôi sợ bên trong, lão còn cất giấy tờ liên quan đến bên kia). Cuối cùng chúng tôi tìm được một tờ giấy khai sinh đề V.N.D.C.C.H. Tôi cười, vỗ vai lão thân mật:

-Chúng cháu ở trên núi mới về. Chúng cháu về đây để giải phóng đồng bào. Bác xem khăn đỏ, biểu thị cho màu cờ giải phóng.

Lão ngần ngừ, rồi nói:

–        Tôi không biết.. Tôi là dân vô tội.

Tôi tiếp tục thuyết phục:

–        Bác hãy chỉ những anh em đồng chí, ra gặp chúng tôi. Nếu không bác theo đế quốc, bác phản bội đồng bào, nhân dân.

–        Không, không.

–        Anh em tôi khổ cực từ trên núi rừng xuống, giải phóng đồng bào, bác tin không.

–        Tin ( Có tiếng cười của vài thằng lính).

–        Tốt. Bây giờ, bác hãy đem xe đạp gửi ở nhà bên cạnh, rồi đi với chúng tôi.

Một chốc, lão đi bộ ra. Chúng tôi cười. Binh Hà nói. Lại gặp một tên nằm vùng. Nhưng vừa ra, lão rên rỉ ( hình như lão đã biết những lời nói dối của chúng tôi). Tôi vô tội. Tôi theo chánh phủ. Tôi là phó ấp. Anh em lường gạt chúng tôi.

–        Không. Chúng tôi là quân đội giải phóng. Tôi hỏi bác lần chót, Bác ở bên chúng tôi hay theo Ngụy.

–        Tôi ở Ngụy!

Cả đám lính cười rộn rã. Tôi nói với thằng lính cận vệ. Thôi bảo lão đi kẻo tối.

Lão nhìn bọn tôi, kể lể:

– Tối rồi, sao đi được.. Tôi là ấp phó, các ông hại tôi. Đêm nay, tôi phải ở lại. Bọn nó về, có nước chết

Tôi sững sờ.  Màu tối hắt hiu trên những gò mả, những kênh đào. Dù sao, đêm nay tôi cũng phải ân hận. Lỡ có chuyện gì xảy đến cho ông già khốn khổ này không? Lỡ đêm nay, bọn nó về, bắt ông già ra một bãi đất nào đó, cột hai tay lại, rồi đọc một bản cáo trạng, để sáng mai, người dân có thể thấy thi thể của một lão già gục chết. Tôi nhớ lại gương mặt của ông ấp trưởng ấp Đại-tín vào một buổi sáng mùa xuân, khi người bên kia hạ sát trong đêm tối. Đôi mắt mở trừng, dòng máu chảy ở cửa miệng, đầu ngoẻo xuống. Làm sao tôi quên được những buổi chiều, ông mời tôi một tách nước trà nóng, ngồi nhìn mặt trời lặn, tâm sự về những nỗi chịu đựng của những người sống trong bóng tối. Tôi nói nhiều về những nỗi khổ tâm của kẻ cầm súng, và những ước vọng về một ngày mai, khi đất nước thanh bình. Ông ấp trưởng rưng rưng thuật lại những cảnh cực khổ, dằng dặc từ ngày này qua ngày khác. Những đêm nằm bờ mương, trốn chạy từ nhà này sang nhà khác.

Bây giờ, tôi lại gặp một người, đang đứng bên cạnh, đang nhìn trời đêm, lo sợ. Tôi an ủi: bác tìm nhà nào quen, ngủ. Rồi rút toán lính về đóng cạnh bộ chỉ huy. Trước khi rút đi, tôi được biết ông già ấy mắc bệnh lãng tai. Tôi cúi đầu đếm những bước mỏi mệt. Toán lính trở về dưới ánh trăng mập mờ. tiếng côn trùng vọng về âm u. Những khóm tre xõa tóc như những bóng ma quái. Tôi cảm thấy lạnh. Trong máy C.25, các đứa con của trung đội 2, báo cáo bắt được một người đàn ông vừa trốn từ chân núi trở về và sắp sửa bắn một người đàn bà, trong đêm lại mò lên núi. Các đứa con báo cáo vị trí đã bị tiết lộ, bây giờ di chuyển toán lính về một địa điểm khác. Tôi lặng mình trong âm thanh quen thuộc từ ống liên hợp. Tiếng gọi và trả lời của người lính mang máy tiếp tục trồi lên, khe khẽ. Vô sự, các đứa con tôi đang zulu, đừng nổ súng ẩu, nghe bồ.

Đại bàng chia vị trí đóng quân đêm từ ống liên hợp. Chúng tôi đóng quân ở hướng Bắc, cây đèn bấm bật lên rồi tắt. Chiếc bản đồ trải ra. Tôi làm những động tác quen thuộc, như ăn, như uống, như làm vệ sinh, như giải quyết sinh lý. Dưới ánh trăng, khóm lá loang loáng những giọt sương đêm. Tôi nằm trên poncho. Người lính giúp việc mở bi-đông rượu, nói: Thiếu úy, uống một tí cho ấm. Tôi nói ừ đưa tao uống một tí. Sao mày lại kỳ vậy. Mỗi lần hành quân, lại mang cả bi-đông rượu theo. Uống say làm sao gác được. Hắn cười uống để đánh giặc cho hăng, thiếu úy.

Hắn mở nắp bi-đông, mời tôi. Rượu đế chánh hiệu. Em mua ngay tại ổ, thiếu úy. Tôi khẽ uống, nhắm mắt và nghe cả thân thể bừng nóng. Đêm thật buồn. Tôi chợt nhớ đến những gương mặt ngơ ngác của đám dân bị đưa về hồi chiều. Gương mặt con bé bị tát tai, với mái tóc rũ dài, và đôi mắt ráo hoảnh. Những bước chân lún sâu dưới bùn. Ba người đàn bà bị bỏ lại, những bà già nằm lăn trên đất, khóc lóc. Tiếng ông già vang lên dưới đám đông. Trong không gian hiu quạnh, có tiếng rì rầm của một chiếc trực thăng. Tôi nghe lòng như một sa mạc nhớ nhung. Đến bây giờ, tôi vẫn có mặt, yên ổn nằm đợi. Đến bây giờ tôi còn thấy được quãng đường đã qua, và quãng đường  trước mặt. Một trái sáng được bắn lên từ một ngôi làng nào đó. Yên ổn đi nhé. Yên ổn để làm gì, nhỉ. Tôi muốn khóc. Đã một năm trôi qua, đêm nay tôi phải cám ơn ai để tôi còn hơi thở. Tay tôi mò mẫm trên ngực. Vết sẹo mỏng, nhức nhối. Tay tôi rờ trên đùi. Những mảnh lựu đạn còn sót lại trong thịt cứng trơ, nổi lên. Tôi phải cám ơn ai đây. Có tiếng ho húng hắng của một thằng lính từ một góc tối. Binh Nha trở dậy, nói với một thằng bạn. Con nhỏ hấp dẫn, đếch chịu được. Em ngồi bếp, thổi lửa. Tao vào, giả đò xin châm thuốc. Em vẫn ngồi, tao khẽ đụng bàn tay. Em cũng chả rút ra. Tức cha chả là tức. Sắp sửa nhảy vào, lại được lệnh rút đi. Có tiếng đáp: Đ.M, có ngày nó thiến mày đó, con ơi. Mày xem ở Bình-dương, cha thiếu úy T.Q.L.C. bị một con nhỏ cho về chầu trời. Những tiếng xì xầm bỗng yên lặng, khi những phát đạn ở ven chân núi dồn dập bắn lên. Tôi thét: Bố trí và nhào xuống thềm cầm cây M.16 chạy ra sân tìm chỗ núp. Những viên đạn lửa xẹt lên. Tôi cầm ống liên hợp, lắng nghe. Phú-sơn, đây Phú-sơn 2, nghe không trả lời. Các con tôi đụng. Chưa biết kết quả. Trả lời sau. Nghe không trả lời. Tôi nghe năm trên năm. Đại -bàng bảo hãy lục soát, rồi chuyển về gấp. Nghe không trả lời. Tiếng rè rè từ đầu ống liên hợp: Tôi nghe năm trên năm. Tôi báo anh một tên bị chết. Bắt được một gói tài liệu. Hiện chúng tôi sắp Zulu, nghe rõ không trả lời

Tôi hồi hộp đón nhận những mẩu âm thoại dồn dập. Chúng tôi đứng, ngồi bất động sau hàng giậu. Trước mặt, cánh đồng trải dài im lặng dưới chân núi. Những trái sáng bắn lên từ chỗ nổ súng. Tôi nói với người trung đội phó: Chờ Đại-bàng cho lệnh, rồi mình nghỉ.

Sáng hôm sau, tôi dắt trung đội đi lục soát khu vực toán kích nổ súng hồi đêm. Hy vọng sẽ tìm thêm một kẻ bị thương nằm lại đâu đó. Thằng Ngọc dắt tôi đến chỗ người bị bắn hồi đêm. Hắn kể lại những phút trước khi hắn nổ súng. Con đàn bà đó gan thật, cứ lầm lũi tiến. Nó mặc quần, xắn lên tới háng, đội mũ rừng, em tưởng là đàn ông. Em để nó cách ba thước mới bóp cò. Bọn đi sau chạy tán loạn. Tôi không còn nhận rõ mặt của  người đàn bà nằm trên bờ ruộng. Đạn M.16 có sức công phá kinh khủng. Mặt bị loét lở. Nhưng tôi bỗng để ý đến chiếc áo màu nâu xám. Chiếc áo của người đàn bà trẻ ôm lấy chân bà già, khóc lóc. Má không đi, con cũng không đi. Tôi bảo thằng Hai kéo chân cho ngay ngắn, lấy tờ báo nhật trình trùm trên đầu và thân thể, đồng thời loan báo với dân làng, ai là thân nhân, hãy đến nhận về chôn liệm.

Đến chiều, một bà già chống gậy, mò mẫm trên con đường làng, vừa khóc vừa kêu: Hai ơi, Hai ơi, mày bỏ tao đi… Con ơi… Bà đến bên xác người đàn bà trẻ, khóc rống. Cánh đồng mùa hè mang vẻ bình lặng ngàn đời.

Một tháng sau, tôi cùng một thằng bạn lái xe jeep trở về thành phố. Chúng tôi ngồi trước hàng hiên của một tiệm giải khát. Tôi bỗng thấy đứa con gái nhỏ đứng trên lan can của một nhà tắm hơi. Tôi nhớ mang máng con bé bị tát tai trong chuyến hành quân trước. Con bé có mái tóc dài, dáng gầy, và đôi mắt ngơ ngắc. Con bé gánh đôi thúng gạo nặng, hai chân lún sâu dưới bùn, lảo đảo bước đi. Con bé đứng dưới gốc đa. Bây giờ con bé đang đứng trên lan can một tiệm Tắm Hơi. Tôi đứng dậy, đá cái lon sữa, đá một cái thật mạnh.

TRẦN HOÀI THƯ

Người hạ sĩ nhất

Trung đội đã di chuyển theo lộ trình mới khi họ tiến vào ấp. Sau cơn mưa ban chiều, hoàng hôn trở về sớm hơn mọi bữa. Bầu trời thấp xuống đầy mây xám. Định nghĩ đêm nay có lẽ trời mưa. Chàng hơi bâng khuâng nhìn lên bầu trời, rồi hỏi hạ sĩ nhất Cày – người lính mang súng phóng lựu : ” Này ông Cày, ông xem đêm nay trời mưa không nhỉ ? ” Ông Cày nhìn lên trời có vẽ lo lắng: “Dám đêm nay mưa lớn lắm. Thật là khổ, mình xuống đồi thì trời lại mưa. Chẳng biết ông trời ông ghét mình cái gì chớ.” Định vẫn yên lặng. Họ nói thì mặc họ nói. Họ than thở thì mặc họ than thở. Chỉ cần họ tuân hành, thế thôi.
Những bước chân đang bước nặng nề trên đám ruộng đầy bùn, cỏ, gồ ghề. Chiều nay Định đã ra lệnh trung đội đi về ấp bằng một lối đi khác, không phải là con đường đê như thường lệ nữa. Chàng lo âu về những quả mìn, hay lựu đạn mà địch đã chôn hay cài. Kinh nghiệm này là kinh nghiệm máu xương từ ngày chàng nắm chức trung đội trưởng. Địch không phải ở trong rừng hay trong mật khu. Địch cũng chẳng chờ sẵn bên kia phòng tuyến. Trái lại, địch là ma quỉ, rình mò toán quân từng bước. Địch biết rõ thói quen của đám lính. Nghỉ ngơi chỗ nào. Đóng quân chỗ nào. Lối nào quân thường dùng để di chuyển. Chính thói quen là một tai họa ghê gớm nhất.
Có tiếng chửi thề của một người lính khi hắn té nhào vào một vũng nước bùn. Đàng sau, những tràng cười đùa vang lên. Binh Lạng la to:
“Cái thằng Nô này, mày làm gì thế? Đường cái không đi, mày lại đi xuống hố nước.”
Nô lò mò ngồi dậy. Cả bộ quần áo trận dính đầy bùn. Không hiểu đêm nay hắn có thể ngủ nổi với bộ quần áo dầm nước hay không. Bên kia con rạch, hai gã đàn ông đang đứng câu cá. Định ra lệnh tên tiền sát viên qua hỏi giấy tờ. Giấy tờ. Cái công việc đặt nặng trên hình thức. Liệu địch không có đủ giấy tờ hợp lệ sao. Dễ dàng quá mà. Bao nhiêu tiền cho một thẻ kiểm tra. Bao nhiêu tiền cho một thẻ trưng binh hay miễn dịch. Nhưng phải làm. Ít ra cũng kiểm chứng được một phần nào kẻ nghi ngờ.
Tên lính trở lại, nói họ là nhân dân tự vệ trong ấp.
Định nói khôi hài:
“Cái ông già tóc bạc kia cũng là nhân dân tự vệ sao ? Nhân dân sợ vợ thì có”
Đám lính cười. Chàng cũng vui lây. Chàng quay lại hỏi ông Cày xin một điếu thuốc. Hạ sĩ nhất Cày lè nhè móc túi:
“Ruby đây, ông”
“Sang nhỉ”

Tổ tiền sát đã đến con lạch nhỏ, ven bìa ngôi ấp. Những bờ lau sậy che khuất, phủ dài mặt hồ phía sau. Bỗng tên lính đi đầu quay lại, đưa tay ra dấu tất cả nằm xuống rồi hắn ngoắc chàng lia lịa. Định nín thở chạy đến. Đàng sau, lính cầm súng chĩa ra bốn phía. Hà chỉ tay về phía hồ đàng sau bãi lau sậy. Định nhìn theo. Đôi mắt chàng mở tròn xoe. Một người con gái đang tắm.
Bên cạnh, giọng Hà hít hà:
“Da nó trắng ơi là trắng. Ông chờ một chút coi nó đứng dậy.”
Định cảm thấy lòng thật sự rung động. Người con gái tắm sông trong hoàng hôn chẳng khác một tấm tranh tuyệt mỹ. Mái tóc của nàng bối cao lên đầu. Từ trên bờ đê chàng muốn rụng tim ngắm nhìn cả thân thể đang trầm mình dưới nước, chỉ để lộ đôi bờ vai trần. Ánh nắng chiều soi đỏ mặt hồ. Và hai tay nàng cứ khoác nuớc, như làm tung tóe cả ánh tà dương. Bên tai, giọng Binh Hà vẫn tiếp tục:
“Đứng dậy đi em. Đứng dậy đi em…”
Định nói với người lính tiền sát:
“Nho nhỏ một chút, coi chừng cô ta nghe.”
Nhưng những người lính đàng sau đã đi đến. Tiếng la của Binh Tư vang ầm:
“Trời ơi, em tắm thật hấp dẫn quá ta.”
Người con gái vội vàng bụm hai tay che ngực rồi ngồi xuống nước. Đám lính cười rộn rã. Hạ sĩ nhất Cày đứng ưởn ngực trên bờ lạch, nói:
“Anh là Cày. Hạ sĩ nhất Cày này em.”
Có tiếng khác thêm vào:
“Hạ sĩ nhất Cày 40 vẫn còn độc thân đó em”
“Hạ sĩ nhất Cày mồ côi vợ đó em.”

Họ cứ đem ông hạ sĩ nhất tiểu đội trưởng tiểu đội Một ra mà đùa chọc. Ông có hàm răng vàng như thời công tử miệt quê. Ai nói gì thì nói, cứ nhe hàm răng vàng mà cười. Dù già rồi, nhưng bản tánh thật trẻ trung. Hễ thấy đàn bà con gái thì nhào đến trước tiên. Dù vậy, ông lại được tiếng là sợ vợ số một. Những người lính nói có lần vợ ông xách dao rượt ông chạy khắp khu gia binh.

Định cảm thấy vui lây. Những niềm vui nho nhỏ khiến người lính quên đi những hiểm nguy rình rập. Những niềm vui vô tội vạ, bên đời gian khổ, lẫn cùng máu và nước mắt.
Bây giờ đêm đã thấy mập mờ trên những cánh đồng. Không còn thấy màu xanh của mạ non nữa. Một vài cánh chim lười biếng bay qua. Định đứng dậy dục:
“Đi bây. Tối rồi.”
Chàng muốn giúp cô gái không còn xấu hổ dầm
mình dưới nước như thế mãi.
Hà nói:
“Em biết chỗ con bé rồi, thiếu úy”
Định la:
“Coi chừng, có ngày nó thiến mày.”
Ngôi ấp đã hiện ra mập mờ sau các rặng tre dày dặc. Chàng khổ sở với ý nghĩ chọn chỗ kích đêm nay. Nên vào trong xóm tìm một hiên nhà để trú quân hay là nằm ngoài đồng trống chịu mưa chịu gió. Đứng lêu bêu giữa đồng, trong khi đám lính đang dừng lại, yên lặng chờ lệnh của chàng. Bao giờ cũng vậy, trong chàng luôn luôn bị hai trạng thái tâm lý đối nghịch nhau câu xé. Một đàng là trách nhiệm. Một đàng là thương đám con tội nghiệp của mình. Trách nhiệm đã bắt chàng phải tàn nhẫn. Phải bắt con mình qua đêm từ gò mả này qua gò mả khác, hay ẩn mình trong mương rạch, ngoi ngóp trong đầm lầy, những chỗ lý tưởng nhất cho các cuộc làm ăn đêm. Trách nhiệm bắt lính chàng phải đội mưa thay vì chàng có quyền tìm một chỗ tránh mưa tránh gió. Nhưng ngược lại là lòng thương cảm những đưa con khốn khổ của chàng. Họ cũng muốn qua một đêm an ổn. Họ cũng ước được một chỗ nằm bằng phẳng không lồi lỏm gồ ghề. Thật là bất công khi giờ này, người ta đang ung dung hưởng thụ trong thành phố, có gái đẹp, có vũ nữ, có tài xế cận vệ, trong khi nơi này những phận đời thấp hèn không ai biết đến, chỉ biết trách ông trời như hạ sĩ nhất Cày… Đâu có ai nghe được tiếng nói Dạ Lan, để mà cảm kích tiếng nói của người em gái hậu phương. Bởi thì giờ chỉ dành cho canh giặc, cho tai căng, mắt căng. Còn nữa. Giả dụ Dạ Lan có thương anh chiến sĩ thật tình, bay đến tiền đồn heo hút để hát cho các anh nghe, thì các anh phải đi nằm xa, bảo vệ cho Dạ Lan được bình an mà hát, kẻo sợ địch pháo kích. Nhất là những ngày hôm nay tình hình bỗng nhiên trở nên sôi động và trung đội phải đặt trong tình trạng ứng chiến liên miên. Ban ngày thì ba lô súng đạn lương khô sẵn sàng và ban đêm, nếu không bị bốc, thì phải xuống đồi kích giặc. Không có đêm nào người lính có một đêm ngủ ngon giấc. Có đêm Định chỉ chợp mắt được một vài tiếng đồng hồ. Ai vỗ ngực tự bảo rằng ta gan dạ anh hùng, xin hãy về đây để gối đất nằm sương một đêm. Để hiểu thế nào là tiếng chó sủa. Để biết được thế nào là chiếc trực thăng Mỹ pha đèn pha rọi xuống đám quân, có thể đưa đến tai họa ghê rợn. Đã xãy ra nhiều vụ bắn lầm. Và hai bên đổ thừa cho nhau. Sư đoàn nói là đã thông báo cho Bộ Tư Lệnh Đồng Minh. Còn Đồng Minh thì nói Bộ tư lệnh cho tọa độ sai. Không ai chịu nhận trách nhiệm. Chỉ có cách hay nhất là gọi máy về yếu khu yêu cầu can thiệp. Rồi cầu nguyện, với con tim nghẹt thở. Cầu để tên xạ thủ trực thăng không ngứa ngáy tay, nả đại liên, phóng rocket.

oOo

Người lính truyền tin đã bắt đầu lên máy liên lạc về nhà. Giọng hắn thì thào. Những người đi ngủ đêm hối hả vượt qua con đường đất, như chạy trốn một điều tai ương khủng khiếp. Định muốn chụp tay một ông già, để mà hỏi: “Sao ông lại chạy trốn. Ông già rồi mà. Bộ ông không tin bọn tôi hay sao?”
Đám lính đã băng qua chiếc cầu tre nhỏ. Những bóng hình mập mờ trong ánh sáng úa héo của một ngày. Những hàng cây vông đồng rủ bóng sậm trên bờ kinh, phía sau trụ sở ấp.
Người hạ sĩ nhất đã quay lại hỏi Định:
“Đêm nay ông định nằm chỗ nào ?”
Định không đáp.
Định bảo lính rút vào một ngôi nhà tranh, che khuất bởi những hàng xoài rậm rạp. Rồi chàng nháy người lính truyền tin: Mày vác súng đi với tao. Tên lính cười thông cảm. Tôi biết ông đến với người yêu của ông rồi mà. Định dặn hắn: “Mày đừng nói với bọn nó.” “Em không nói đâu ông. Em thấy cô ấy cũng đẹp đấy.”
Rồi cả hai nhảy rào. Định thì bồi hồi mong được thấy lại người con gái quê mà chàng đã gặp trong buổi chợ quận. Còn Trí thì mong được chia xẻ cùng ông thầy hắn niềm vui mà chỉ mỗi một mình hắn biết.

◊◊◊

…Định đã thấy nàng đang ngồi bên giếng, giữa một vườn cải xanh thẩm. Những bông cải vàng nở rộ. Cô gái dường như không biết có người lạ vẫn cúi đầu vo nếp. Định nhìn, muốn cắn vào bờ gáy trắng phau phơn phớt lông măng. Chàng vẫn đứng yên khuất sau hàng rào. Bỗng con chó vàng từ trong nhà chạy ra sủa rân. Tiếng bà già rủa con chó: “Quỉ nà, sủa bậy nà.” Con chó vẫn cong đuôi sủa. Người con gái bây giờ mới chợt nhìn lên, đôi mắt mở lớn ngạc nhiên. Nàng khẻ vén những sợi tóc mây rũ loà xoà trên trên trán, rồi lại cúi xuống như vô tình không biết người quen. Trí chào bà già thật lễ phép. Nó đang cố lấy cảm tình cho ông thầy của nó. “Thưa bác, rau tốt quá hè. Cải tốt quá hè…..” Bà già nhìn sững Định một hồi. Trí chỉ tay về phía Định rồi giới thiệu: “Trung đội trưởng của con đó bác.” Lập tức bà già rối rít xoa vội tay: “Mời trung sĩ vào nhà uống nước cái đã.” Trí đính chính: ‘Thiếu uý chứ không phải trung sĩ đâu thưa bác.” “Dạ, mời thiếu úy vào nhà.” Định lễ phép từ chối. Nhưng bà già đã kêu cô gái: “Gái, vô pha nước đi con.” Người con gái dạ rồi đứng dậy. Định làm bộ nói lớn để cô gái nghe: “Dạ làm phiền cô và bác.” Chàng thấy nàng cười mỉm. Lòng Định lại càng nôn nao hơn bao giờ.

Bây giờ, người con gái đang múc nước tưới vườn rau. Đôi ống quần đen của nàng xắn lên để lộ hai bắp đùi trắng như mở sa. Định tiến đến bên giếng, hỏi vơ vẩn:
“Cải này để Tết làm dưa phải không cô ?”
“Dạ vừa làm dưa vừa để bán.”
“Tết cô cho tôi về ăn Tết với cô, được không ?”
“Sợ thiếu úy chê nhà quê nghèo.”
“Không. Tôi nói thật mà. Bộ cô tưởng tôi không phải là dân ở nhà quê sao ?”
Và Định cười lớn:
“Tôi gánh nước tưới rau một cây.”
Người con gái cười lộ lúm đồng tiền:
“Thôi mà thiếu úy. Bà xã của thiếu úy để đâu mà thiếu úy phải gánh nước.”
“Bà xã của tôi chết rồi. Tôi muốn kiếm người khác mà ai cũng chê tôi hết.”
.”….”
“Bác trai đâu rồi cô?”
“Cha tôi ổng đi ngủ đêm rồi.”
“ở đây yên mà…”
“Tại ổng sợ. Nơi này sống khổ lắm. Tối không ai dám ngủ nhà. Đau cũng không dám ra bệnh xá quận nữa.”
“Đêm nay cô yên chí ngủ với má.”
Cô gái xịu mặt:
“Thiếu úy cứ chọc em hoài.”
Tâm hồn Định trở nên ấm áp lạ lùng. Chàng không còn biết đến vị trí của chàng hiện tại nữa. Chàng muốn ôm nàng vào lòng, hôn trên đôi môi mọng, vỗ về trên bờ vai mềm mại, vuốt đầu tóc còn xanh mướt mùa xuân. Chàng ước mơ một căn nhà nhỏ như thế này, vườn rau cải, bờ giếng đá như thế này., và một đời sống dản dị, giữa một màu xanh bát ngát của đồng lúa mênh mông. Chàng hỏi nàng, tha thiết:
“Cô còn nhớ buổi sáng phiên chợ Quận không ?”
“Dạ nhớ.”
“Riêng tôi, thì tôi nhớ lắm. Từ ngày gặp cô, tôi cứ mơ một ngày được qua nhà cô, để thăm hai bác, thăm cô…Có phiền cho cô không ?”
“Đâu có phiền gì, thiếu úy”
“Xin cô đừng gọi tôi là thiếu úy. Cô gọi tôi là anh được không.”
“Dạ, thưa anh, tối rồi. Bà già em khó lắm.”
Định nói đầy trách móc:
“Cô muốn đuổi tôi sao ?”
“Dạ em không dám”
“Mai cô có đi chợ quận không?”
“Dạ, thưa có.”
“Anh sẽ là khách hàng đầu tiên của em. Anh sẽ mua tất cả.”
Bây giờ người lính truyền tin đã đến bảo:
“Thiếu úy, nhà gọi máy bắt mình báo cáo chỗ làm ăn”
“Tao biết. Nói với họ chờ vài phút.”
Rồi Định nhìn cô gái lưu luyến:
“Chào em. Anh chờ em ngày mai nhé.”

oOo

Người hạ sĩ nhất đã dẫn toán lính trở lại. Ông nói:
“Tôi vừa gặp thanh niên chiến đấu. Họ nói cách đây không lâu người ta khám phá một chiếc hầm nằm dưới cửa ra vào trong căn nhà đó. Nhà đó có thằng con nhảy núi.”
Rồi ông chỉ tay về phía nhà cô gái.
Định lặng người đi trong một lát. Trời ơi, lại thêm một lằn ranh oan nghiệt nữa chém xuống thân phận thế hệ đám trẻ này. Nên trách ai đây, kết án ai đây. Giữa lúc giấc mơ nở hoa, đầy những nụ hồng thì bây giờ lại thay bằng trái đắng. Vâng. Chàng muốn lấy súng nả lên trời bắn cho đã giận. Khi em cúi đầu yên lặng, anh hiểu là anh đã có em trong phần đời. Anh hiểu là em sẽ là người yêu của anh, và là vợ anh. Anh đã đi tìm một nụ hoa, và nụ hoa anh đã thấy rồi, nụ hoa đồng nội. Anh không cần biết những nhân danh, những mỹ từ thòng lọng…Nhức đầu nhức óc lắm rồi. Anh chỉ cần em, bởi vì lần đầu con tim anh biết rung động là gì, cần em cho anh một lần nủng nịu, giận hờn, thơ dại, quê mùa, nhưng tha thiết…
Chàng buồn bã bảo ông Cày:
“Thôi đi tìm chỗ khác. Ra gò mả mà nằm.”

oOo

Khu gò mả nằm bên kia cầu, giữa một vườn xoài rậm rạp. Nơi này, Định có thể thấy rõ cánh đồng hướng Đông mà địch vẫn từ hướng núi Kỳ Sơn trở về xâm nhập.
Định thầm thì với ông Cày:
“Ông cắt gác cho tôi. Đêm nay tôi nằm tại gò mả này.”
Ông Cày chắc lưỡi:
“Nằm gò mả hoài có ngày không bị phun cùi thì cũng bị điên như thằng Nha đó ông.”
Định im lặng. Chàng nhớ đến Nha, người lính mang đại liên. Một tay mạnh khoẻ như thế, tự nhiên nổi cơn điên, nhai ly miệng chảy máu đỏ lòm rồi xách dao rượt vợ muốn tuột cả quần. Chàng nghe thằng Tâm nói như thế. Ông Ký lên đồng gọi bà cô về, bả cho biết, tại nó dám trải poncho trên mả. Có thật như vậy không. Nhưng chàng không thể chọn địa điểm nào khác. Chỉ có gò mả mới là nơi phòng thủ an toàn nhất. Những ụ mả là chỗ để nương thân. Và bốn phía thì trống trơn để người lính có thể dễ quan sát. Tháng này là tháng mưa, gò mả là nơi khô ráo, để người lính khỏi phải đứng dưới nước lụt trong mương dưới rạch. Còn bờ ruộng thì quá hẹp, không đũ chỗ cho mười mấy đứa con qua đêm. Hơn nữa, du kích hay tiền sát bên kia tinh quái lắm. Họ dễ gì đi đường khô đường ráo.

Bây giờ đám lính đã ngồi bệt trên gò mả. Những dáng nặng nề, ba lô súng đạn như những hình thù quái dị. Bên kia cầu là trụ sở ấp. Những thanh niên chiến đấu đã rút lên mạn trên. Tiếng chó sủa nghe buồn bã lạ lùng.
Ông Cày chồm người, dặn dò từng thằng lính:
“Tụi bây phải rán thức, rán thức nghe không ?”
Rồi ông ta quay sang Định, giọng lè nhè:
“Mình bắt bọn nó thức đến 12 giờ đêm, rồi mới bắt đầu gác cho chắc ăn. Dầu Nhị Thiên Đường tôi sẽ đem đi trét vào mắt bọn nó, sợ bọn nó ngủ.”

oOo

Nửa đêm trời bỗng đổ mưa lớn. Những hạt mưa ào ào bủa xuống, bất ngờ khiến Định không kịp mang áo mưa. Vầng trăng đã khuất trong mây, nhưng chàng có thể thấy một không gian mờ nhạt trong màn mưa. Những vệt nước loang dần trên má và ri rỉ trên cổ. Tám – người lính ô đô của chàng – đã vụt ngồi dậy, trùm áo mưa kín mít. Ngồi một đổi, hắn lại bắt đầu gục. Bên cạnh, đám lính vẫn ngồi, hoặc nằm bất động. Có tiếng ho và bị nghẹn ở cổ. Lại có tiếng của hạ sĩ nhất Cày trổi lên, phẫn uất: “Rán mà thức để canh cho bọn nó ở nhà được lên lon, nghe bọn mày.” Rồi ông ho sù sụ. Định bước đến phía ông Cày, giận dữ:
“Ông muốn chết cả đám hả ?”
Ông Cày nói:
“Tui tức chịu không nổi. Tui đi lính mười mấy năm mà vẫn còn hạ sĩ nhất. Bọn quân số chúng chơi tui. Ông xem, bọn nó ở văn phòng mà lên lon như gió…”
“Thôi ông đi ngủ đi để có sức. Chuyện này tôi sẽ trình với trung úy.”

Mưa mỗi lúc một to. Thỉnh thoảng những tia chớp lóe trên bầu trời đen kịt. Chiếc áo mưa không đủ che được những vệt nước đang tự do chảy trên da thịt. Chàng run cằm cặp. Ánh chớp đã làm rõ khuôn mặt của Tám. Chàng thấy hắn ngủ say sưa. Thỉnh thoảng đầu hắn lại gục xuống. Thỉnh thoảng có tiếng chó sủa vọng về như tiếng vọng nào từ cõi âm hồn.

Chàng đến bên người lính gác.
“Ai đấy.”
“Dạ, em là Lang.”
“Mày có nghe gì về thằng Nha không?”
“Dạ người ta chở nó vào bệnh xá Sư đoàn rồi. Nghe nói họ phải dùng dây xích cột chân cột tay…”
Rồi nó nói tiếp:
“Người ta bảo nó bị ông bà phạt. Không biết phải vậy hay không. Thiếu úy nhớ thằng Hùng Nhảy dù không. Nó tự nhiên nhảy lên bàn thờ rồi ngồi vuốt cầm cười ha hả. Nó nói người sống không thờ lại đi thờ người chết…”
Bây giờ Định mới nhớ và càng hơi lo âu. Trước đây nghe câu chuyện nhảy lên bàn thờ ngồi của Hùng Nhảy Dù, chàng cứ nghĩ tại hắn quá ba gai, bất chấp thánh thần, hay cũng tại vì rượu, nhưng bây giờ thấy một tên lính hiền như thằng Nha lại nổi cơn, thì không ít thì nhiều, cũng có lý do. Cái lý do ấy đã được ông đồng bà cốt cho biết. Chàng hỏi Lang:
“Mày tin không ?”
“Tin gì thiếu úy ?”
“Tin chuyện thằng Nha nổi cơn là do việc nằm gò mả không?”
“Không, em không tin. Mà em cũng chẳng bao giờ sợ. Thời buổi này ma quỉ quá nhiều. Ma sống còn tàn bạo gấp trăm ngàn lần ma chết. Có điều chẳng ai biết gì đến cảnh khổ của bọn mình. Cả tháng nay, đêm nào bọn em cũng thức trắng. Ông Cày nói đúng, mình làm để kẻ khác hưởng.”
Định lặng thinh.

oOo

Tâm sự của Lang đã làm Định suy nghĩ. Lang ơi, tao biết lắm. Tao thấy cả thân thể mày run vì lạnh, mà không dám hút thuốc. Tao cũng đau cũng lạnh cũng xót cũng mắt trừng cũng không dám hút thuốc như mày. Mày không biết, nếu mày khổ một lần thì tao phải khổ cả trăm lần không. Mày thức thì tao thức. Mày ngủ thì tao cũng thức. Tội nghiệp. Khi ông Cày trét dầu Nhị Thiên Đường, nghe mỗi đứa hít hà kêu cay quá, lòng tao phải quặn đau. Nước mắt bọn mày chảy còn lòng tao lệ cũng thấm tràn. Ôi, chúng ta đồng lòng cùng chịu để thiên hạ được sống, tại sao lại không hãnh diện chứ. Phải, nếu thiên hạ hiểu và thông cảm chúng ta, cũng biết xốn đau như khi chúng ta bị dầu làm cay xé con mắt. Còn nữa. Người ta đã lợi dụng quân đội, lợi dụng màu áo, lợi dụng cấp bậc, lợi dụng súng ống. Bên cạnh những người sĩ quan trong sạch, lúc nào cũng lo đến đời sống của thuộc cấp, yêu thương giúp đỡ quân sĩ, thấy người lính áo rách mà xót, thấy đôi giày trận của người lính hả mỏm mà thương, giúp đỡ vợ con thân nhân người lính khi cần, còn có những tay xem người lính thuộc cấp như tôi tớ… Lang ơi. Tao cũng hiểu tại sao ông Cày lại bất mãn. Rán mà thức để canh cho bọn nó ở nhà được lên lon, nghe bọn mày. Trời ơi, lời nói như những tiếng trầm thống thốt lên trên một huyệt địa đen tối, làm sao vọng đến những ngài chức phận. Hay chúng bị mất đi trong muôn ngàn âm thanh của vũ trường xềnh xang, của những mỹ từ hay những lời quá cao siêu quá to lớn hay bị chìm lẫn cùng với muôn ngàn tiếng than thở của loài dạ trùng hay ếch nhái trong đêm…
oOo

Cơn mưa đã làm hơi đất bốc lên ngùn ngụt. Định cố gắng trùm kín Poncho để che hết thân thể, nhưng hơi đất cứ thấm buốt tận da thịt mình. Lại một đêm mất ngủ. Ngày mai phải rán ngủ bù. Chàng tự bảo lòng mình như thế. Chỉ tội là đám con mình. Ngày mai, vẫn phải lên đồi, vẫn phải điểm danh, vẫn phải ứng chiến. Định lại bị ám ảnh bởi căn bệnh của nhà thơ Hàn Mặc Tử cùng việc nổi cơn của thằng Nha, nhai ly rồi xách dao rượt vợ. Chàng nằm yên, mà lòng chàng lại không yên. Nỗi lo vô hình về độc khí có lẽ đang tìm cách xâm nhập vào người. Khi chàng gãi, thì chàng có cảm giác hơi ớn lạnh. Chàng mở mắt trao tráo nhìn lên bầu trời đen tối. Tiếng dạ trùng vang lên não nuột. Có cả tiếng chim vạc cất lên lẽ loi. Bóng người lính canh mập mờ như pho tượng. Và tiếng gió thì thỉnh thoảng rít lên, hú dài trên cánh đồng. Gió làm mảnh chiếc poncho đập phành phạch. Có tiếng mớ của một người lính nào đó. Rồi có tiếng gọi đổi phiên. Sau đó là tiếng chửi thề của ông Cày về đám chuột chạy loạn xạ, đuổi nhau trong đêm, chui vào cả trong ba lô, bò ngay trên mình mẩy. Ôi, những đứa con của chiến trường hẩm hiu. Hẩm hiu cùng trời đất, hẩm hiu cùng hàng ngũ, hẩm hiu mà không dám hé miệng, hé môi.

oOo

Ngày hôm sau, đại đội được lệnh tăng phái cho một trung đoàn đang tham dự một cuộc hành quân hổn hợp Việt Mỹ. Tiếng kẻng vang lên dồn dập. Người lính trực đã bắn ba phát súng để ra hiệu cùng đám lính ở dưới trại gia binh. Người trung sĩ tiếp liệu đang phân phát lương khô và đạn dược cho từng trung đội. Định đã quá quen thuộc với cảnh tượng như thế. Những nỗi hồi hộp, bâng khuâng, lo âu vô cớ đã không còn nữa. Giờ là nỗi dửng dưng. Dửng dưng chấp nhận. Dửng dưng như con số không to tướng. Như mấy giòng thơ mà chàng đã sáng tác:

Đời ta là con số không vô tận
May trên đầu còn chiếc mũ rừng
Mũ nhẹ nên xem đời cũng nhẹ
Chiến tranh. Thì cũng tựa phù vân…

Rồi tập họp điểm danh, rồi kiểm soát đạn dược, rồi báo cáo đại đội phó, rồi chờ xe lên đồi bốc đi. Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh. Chỉ cầu mong bấy nhiêu, để còn thời giờ mà níu kéo tuổi thanh xuân. Nhưng rõ ràng mặt trận không yên tĩnh nổi. Những cuộc đụng độ với quân chính qui Sao Vàng càng lúc càng nhiều. Vài quận lị đã bị mất, và một tiểu đoàn bộ binh đã bị thiệt hại gần hết, trong đó có thằng bạn của chàng. Tiếng trọng pháo hay bom rền đã nghe rất gần bộ tư lệnh. Rất may, từ trước đến giờ, bộ tư lệnh vẫn chưa bị một trận pháo nào của địch rót vào. Công lao này, không phải tự nhiên mà có. Ít ra, đơn vị cũng làm tròn trách nhiệm mà ông Tướng Tư Lệnh Nguyễn văn Hiếu đã dành cho đại đội.
Tám, người lính ô đô, hỏi Định:
“Ông thầy có cần mang gì theo, nói cho em biết.”
“Cám ơn Tám, không.”
Trí đang bận thử máy với thằng Yên, mang máy truyền tin cho ông đại đội trưởng. Hôm nay, ông Tướng trung đội phó nghỉ phép, nên hạ sĩ nhất Cày được giữ chức xữ lý. Thấy ông đang bận rộn cùng hàng quân, chàng bỗng thương ông hơn bao giờ. Nỗi bất mãn của ông đã biểu lộ đêm hôm qua không phải không có lý do. Cái lon hạ sĩ nhất của ông đã quá lâu, trong khi những tay ở hậu cứ hết kẻ này đi học khoá hạ sĩ quan, hay kẻ khác được lên cấp. Chàng nghĩ là phải giúp ông sau lần tăng phái này. Nhưng giúp bằng cách gì. Chàng cũng không thể biết. Có lẽ một khuyết điểm lớn của quân đội là rập khuôn theo quân đội thời Tây đô hộ, dành cho đơn vị trưởng một vai trò mà người lính xem là bậc cha mẹ, có quyền uy tối thượng. Đơn vị trưởng thương thì nhờ ghét thì chịu. Đơn vị trưởng là Mặt Trời Đại bàng, bóng rợp trên những con chim sâu chim mía… Còn chức trung đội trưởng thì không có một thẩm quyền gì ngoài việc xem bản đồ, chấm toạ độ, coi phương giác trên địa bàn, nhận lệnh, thi hành lệnh và được có một kẻ hầu không công. Còn lại là vai trò của một người lính tiền sát hay khinh binh không hơn không kém. Thật vậy, từ ngày nhận chức trung đội trưởng đến giờ, cả năm, chàng chưa bao giờ được hỏi ý kiến hay được cơ hội đề nghị thăng thưởng thuộc cấp của mình. Việc này hoàn toàn từ hậu cứ. Mà thật ra, chàng cũng chẳng cần bận tâm. Chàng chỉ biết rượu đàn bà và súng đạn. Chàng chỉ biết hối hả để sống và mai ta đụng trận ta còn sống. Về ghé Sông Mao phá phách chơi… (thơ Nguyễn Bắc Sơn)

Bây giờ đoàn xe bốn chiếc GMC đã bò lên đồi. Lính lục tục lên xe, ba lô súng đạn kềnh càng. Chẳng ai bận tâm thắc mắc về một nơi mà họ sẽ đến. Anh sẽ ra đi vào miền mênh mông. Lời ca của Lệ Thu như vướng vít theo lớp bụi đỏ và những áng mây xa trên những núi rừng hiểm địa. Định mở cabin xe.
Ông Cày ngồi bên cạnh. Cabin là chỗ danh dự. Dành riêng cho trung đội trưởng và trung đội phó mà. Ông Cày nhích người nhường chỗ cho chàng. Định rút bao Pall Mall, mời ông. Ông đưa hai tay nhận điếu thuốc. Ông nói cám ơn. Định để ý đến vết sẹo dài suốt cả bắp tay. Chàng hỏi:
“Ông bị thương lúc nào?” “Cách đây ba năm thiếu úy. Bị mìn. Không phải ở chỗ này mà còn ở dưới đùi nữa.” Định muốn rưng rưng. Những vết sẹo ngang dọc, câm nín, hẩm hiu trên những phận đời thấp hèn, mà người ta tha hồ thổi phồng, ca ngợi mà thật sự rổng tuếch và bất nhẫn. Ai hy sinh hơn họ. Ai lao về phía trước hơn họ. Ai gian khổ hơn họ. Ai nhục nhằn hơn họ ?

Đoàn xe xuống đồi, rồi qua chợ quận. Định cố gắng nhìn vào trong, và chàng nhận ra người con gái quê. Hôm nay nàng mang áo vàng như màu bông cải, rực rở dưới nắng mai. Có lẽ hôm nay nàng đã dành cho chàng, trang điểm cho chàng, mang áo mới cho chàng. Như vậy mà chàng lại nghi ngờ, chùng lòng khi lính chàng bảo nhà nàng có người nhảy núi. Lòng chàng đâm xôn xao. Chàng muốn tạ tình. Không hiểu sao chàng khẩn cầu với người tài xế. Anh làm ơn ngừng lại vài phút. Tôi cần mua gói thuốc lá. Người tài xế ngừng xe bên đường. Chàng nhào xuống, chạy đến bên người con gái.Nàng thấy chàng buột miệng kêu: “Anh.” Chàng tha thiết nhìn nàng: “Anh đến thăm em đây. Tha lỗi cho anh, anh phải đi liền. Đoàn xe đang chờ anh.” Nói xong, chàng cầm bàn tay nàng xiết mạnh. Nàng để yên. Rồi chàng nói: “Thôi anh đi.” Tiếng còi từ phía xe chỉ huy vang lên, thúc hối. Chàng trở lại xe. Rồi đoàn xe tiếp tục lăn bánh. Anh sẽ ra đi về miền mênh mông…

oOo

Khi xe lên đèo, Định mở cửa cabin, một tay cầm súng, một tay đeo vào thành cửa xe mà đứng như chàng cao bồi chánh hiệu. Chàng đã ra lệnh lính xếp băng xe lại, tất cả đều đứng dậy súng chĩa ra hai bên đường như sẵn sàng khai hỏa. Kinh nghiệm này không phải từ trong các bài học ở quân trường mà từ kinh nghiệm chiến trường. Bài học về phản phục kích trong quân trường chỉ dạy về những điều căn bản như cách bố trí đội hình, vị trí súng nặng, tổ nào tiếp trợ cho tổ nào… Quân trường không hề dạy về một yếu tố rất cần. Đó là yếu tố tâm lý. Phải làm sao để kẻ địch cứ nghĩ rằng mình có cảm giác bị phác giác dù chúng ẩn trong lùm, trong bụi. Phải làm sao để địch ngán nếu khai hỏa đầu tiên. Chỉ có cách là buộc người lính bỏ ba lô, đứng thẳng trừng mắt, như sẵn sàng nhảy xuống chơi với bọn mày trong chớp nhoáng. Phải chứng tỏ rằng chúng tao sẵn sàng thí mạng cùi…

Yên tĩnh. Đoàn xe chậm rãi leo lên đèo. Sau đoàn xe là một đoàn convoi Mỹ chở đạn pháo binh đang bóp còi inh ỏi xin qua mặt. Đoàn xe của chàng nép qua bên lề để nhường cho đoàn convoi. Khi chiếc xe sao trắng cuối cùng qua khỏi, thì bỗng một tiếng nổ dội ầm phát lên rồi tiếp đến là những tràng nổ tiểu liên, dòn dả cắt xé. Những ngọn lửa bừng dậy, cùng những tràng nổ dội ầm ầm từ những thùng đạn pháo binh trên xe. Lính nhảy ào xuống, núp vào những mô đá bên đường, mạnh ai nấy bắn xối xả vào trong rừng. Có lẽ vì hỏa lực bất ngờ của đơn vị chàng nên địch sợ không dám xung phong ra ngoài. Đàng sau, ông đại đội trưởng thì đang gọi về trung tâm báo cáo và xin trực thăng lên tiếp trợ. Giữa lúc ấy, Định nhận ra cách chừng 50 thước, một người lính Mỹ lảo đảo nhào xuống xe rồi té trên đường. Hắn nằm tênh hênh giữ lộ trống trải. Hắn cố gượng trong tuyệt vọng, để bò thêm một tí nữa. Rồi sau đó hắn nằm yên. Định biết hắn vẫn chưa chết vì rõ ràng chân tay đang cử động, như cố gắng trườn thêm một chút nữa. Định không biết xử trí làm sao thì ông Cày hối hả nói với chàng: Ông cho tôi một thằng để nhào lên cứu hắn. Hắn nặng lắm, một ngừơi không khiêng nổi hắn đâu. Hắn nằm như thế nguy hiểm lắm. Định gật đầu rồi ra lệnh binh Hà cùng nhào lên. Chàng nói với người hạ sĩ nhất của mình bọn tôi sẽ bắn yểm trợ ông. Rán cẩn thận.

Ông Cày cầm M79 vụt chạy lên. Tiếp theo là binh Hà. Định hét hỏa lực tối đa. Ông đại đội trưởng gọi máy hỏi, Định chưa kịp phân trần thì chàng thấy cả người ông Cày ngả xuống bên thằng Mỹ. Định nóng mặt, càng hét lớn. Bọn mày yểm trợ cho tao. Y Đao, mày theo tao. Giữa lúc đó, hai chiếc trực thăng của Sư đoàn Một Kỵ Binh bỗng xuất hiện, thi nhau phóng hỏa tiển xuống hai bên bìa rừng. Định chạy lên. Những người lính khác cũng ào theo như bão trốc. Trí vừa chạy vừa báo cáo trong lúc hỏa tiển và đại liên từ hai chiếc trực thăng vẫn tiếp tục ì ầm nả xuống những chỗ nghi ngờ. Khói bốc, lẫn những tiếng nổ ầm ầm từ những quả đạn pháo binh, chiếc xe sao trắng bốc cháy bên đường. Những người lính Mỹ bây giờ mới hết hoảng hồn, nằm chĩa súng vào phía rừng. Không thể ngờ từ một chuyến đi, đơn vị lại phải mang một trách nhiệm ngoài dự định. Và chịu thêm một cái tang. Ông Cày, hạ sĩ nhất Cày tử thương.

Ông đã được chiếc trực thăng đặc biệt của Sư đoàn 1 Kỵ Binh Không Vận Hoa kỳ tải về nhà xác. Trong một buổi trưa vẫn còn nghi ngút khói, và lửa vẫn còn bốc ngọn, chiếc trực thăng đã đáp ngay trên đèo. Thằng lính Mỹ bị thương đã ôm chầm lấy xác ông Cày mà khóc ròng. Trung đội cũng ngậm ngùi nhìn chiếc poncho bọc lấy xác của ông Cày mà rưng rưng. Thôi hết rồi những lời đùa chọc ông Cày 40 mà còn độc thân đấy em. Anh là Cày đây em. Và hàm răng vàng của chàng công tử miền quê, không giận hờn ai. Ai chọc ghẹo chỉ việc cười híp mắt.
Chỉ có đêm qua, lần đầu tiên Định mới thấy ông Cày bất mãn. Chàng thấy có lỗi một phần, bởi vì dù sao chàng cũng vẫn là trung đội trưởng của ông. Phải chi ông nói với chàng sớm hơn. Nhưng mà liệu chàng có thể giúp ông được hay không, trong khi hàng ngũ thì đầy dẫy tệ đoan, mua quan bán chức, lính ma lính kiểng, trong khi xã hội thì càng ngày càng tan rã, trong khi những người như bác sĩ Hà Thúc Nhơn đứng dậy cùng thương bệnh binh đòi hỏi cải tổ lành mạnh hóa guồng máy thì bị giết oan nghiệt bởi chính hàng ngũ của anh ta. Và những người thanh niên khác, thao thức cùng vận nước, dũng cảm nói lên tiếng nói thì bị đày ra tác chiến, lên rừng chơi với khỉ vượn. Thật nực cười, người ta cứ kêu gào thanh niên là rường cột nước nhà, là gánh trách nhiệm trước dân tộc, lịch sử, nhưng một khi thanh niên muốn chia xẻ trách nhiệm chung, muốn lành mạnh hóa quân đội muốn tỏ bày những ý kiến trung thật của mình thì bị trù dập, đày ải, bị gán cho những danh từ như bất mãn, hèn nhát, phản chiến, phản bội, vô kỷ luật. Làm như đất nước này là của riêng của một nhóm người không ai được quyền chia xẻ trừ cái quyền được chết.

Ông Cày đã chết vì đã cứu người lính Mỹ. Ông không còn bất mãn nữa. Ông đã được tự động lên cấp cố trung sĩ. Ông chẳng cần ai khiếu nại nữa.

Memorial Day 2002
(trích từ Đêm Rừng Tràm, Thứ Ấn Quán xb 2005)